Một bộ Starlink tiêu chuẩn gồm một ăng-ten thu phát tín hiệu với vệ tinh cỡ nhỏ, cùng một router phát tín hiệu Internet qua kết nối wifi, dây kết nối
Một bộ Starlink tiêu chuẩn gồm một ăng-ten thu phát tín hiệu với vệ tinh cỡ nhỏ, cùng một router phát tín hiệu Internet qua kết nối wifi, dây kết nối (Ảnh: internet)

So với mặt bằng thị trường, Starlink có mức giá cao hơn rõ rệt. Internet di động hiện là loại hình rẻ nhất tại Việt Nam, với doanh thu trung bình trên mỗi thuê bao (ARPU) năm 2025 chỉ khoảng 2–3 USD/tháng (tương đương 50.000–80.000 đồng), theo số liệu của BMI Research. Trong khi đó, các gói cáp quang cơ bản của ba nhà mạng lớn gồm Viettel, VNPT và FPT có giá khởi điểm từ 190.000–195.000 đồng/tháng từ tháng 3/2026. Như vậy, chi phí sử dụng Starlink dự kiến cao gấp khoảng 10 lần dịch vụ Internet cố định phổ biến.

Ở chiều ngược lại, Starlink lại có lợi thế về giá nếu so với các dịch vụ Internet vệ tinh truyền thống như VSAT. Tại Việt Nam, VSAT chủ yếu phục vụ tổ chức, doanh nghiệp tại khu vực vùng sâu, vùng xa, hải đảo hoặc các lĩnh vực đặc thù, với chi phí từ 5–20 triệu đồng/tháng cho mỗi điểm kết nối. Tốc độ của VSAT phổ biến chỉ từ 512 Kbps đến 2 Mbps, thấp hơn nhiều so với nhu cầu hiện nay.

Router phát tín hiệu Internet qua kết nối wifi với dây nối đi kèm có chiều dài khoản 15m
Router phát tín hiệu Internet qua kết nối wifi với dây nối đi kèm có chiều dài khoản 15m. (Ảnh: internet)

Xét về hiệu năng, dữ liệu từ Ookla cho thấy tốc độ Internet di động tại Việt Nam đạt trung bình 188,15 Mbps, Internet cố định khoảng 288,76 Mbps, trong khi Starlink đạt khoảng 104,71 Mbps trên phạm vi toàn cầu. Điều này cho thấy Starlink không vượt trội về tốc độ so với hạ tầng mạng mặt đất hiện có.

Sự chênh lệch về giá giữa các loại hình dịch vụ chủ yếu đến từ chi phí đầu tư và vận hành. Internet di động và cố định dựa trên hạ tầng mặt đất, chi phí bình quân trên mỗi thuê bao giảm dần khi quy mô người dùng tăng. Trong khi đó, Internet vệ tinh đòi hỏi chi phí rất lớn ngay từ đầu. Đến cuối năm 2025, SpaceX đã phóng khoảng 10.000 vệ tinh lên quỹ đạo thấp để hình thành mạng lưới phủ sóng toàn cầu. Mỗi vệ tinh có chi phí sản xuất từ 500.000 đến một triệu USD và cần thay thế sau khoảng 5 năm hoạt động.

Sử dụng phần mềm để kiểm tra tầm hoạt động của ăng-ten có bị che khuất không
Sử dụng phần mềm để kiểm tra tầm hoạt động của ăng-ten có bị che khuất không (Ảnh: internet)

Ngoài chi phí sản xuất, mỗi lần phóng tên lửa Falcon 9 tiêu tốn khoảng 67 triệu USD, mang theo 29 vệ tinh. Theo ước tính của The Motley Fool, chi phí duy trì và thay thế chòm vệ tinh có thể lên tới 8,2 tỷ USD mỗi năm khi hệ thống đạt quy mô lớn.

Đổi lại, Starlink mang lại khả năng phủ sóng rộng gần như toàn cầu nhờ các vệ tinh hoạt động ở độ cao khoảng 550 km, thấp hơn nhiều so với vệ tinh địa tĩnh (trên 35.000 km). Điều này giúp giảm độ trễ và cải thiện tốc độ truyền dữ liệu. Quy mô hàng triệu người dùng cũng góp phần kéo giá Internet vệ tinh xuống gần hơn với dịch vụ đại chúng.

Tại Việt Nam, hạ tầng viễn thông hiện đã phát triển mạnh. Mạng 4G phủ sóng 99,8% và 5G hơn 90% dân số; trên 87% hộ gia đình sử dụng Internet cáp quang, với mạng lưới phủ đến 100% số xã. Trong điều kiện này, đại diện Cục Viễn thông cho rằng Starlink không nhằm thay thế các dịch vụ hiện có mà bổ sung vào hệ sinh thái hạ tầng số.

Dịch vụ này đặc biệt phù hợp với các khu vực khó triển khai hạ tầng mặt đất như vùng sâu, vùng xa, biển đảo, cũng như phục vụ nhu cầu kết nối trên biển và trên không. Ngoài ra, Starlink còn đóng vai trò là phương án dự phòng khi mạng mặt đất gặp sự cố trong các tình huống thiên tai hoặc thảm họa.

L.T(t/h)