THCL Việt Nam sẽ phải NK nhiều than hơn trong giai đoạn 2017 - 2020 và mục tiêu 2030 nhằm bảo đảm nguồn nguyên liệu cho hơn 20 nhà máy nhiệt điện chạy than. Thế nhưng, Bộ Tài chính lại vừa kiến nghị Chính phủ cho XK than cục, than cám chất lượng cao (?!).

Năng lượng đang thiếu hụt
Sự mất cân bằng cung – cầu sẽ khiến Việt Nam phải NK nhiều than hơn.
Cụ thể, theo Bộ Công thương, sản lượng khai thác và sản xuất than năm 2015, toàn ngành than đạt 40,03 triệu tấn, năm 2016 sẽ là 43,77 triệu tấn, năm 2020 là 50,38 triệu tấn và năm 2030 là 57,49 triệu tấn. Trong khi đó, nhu cầu than trong nước đang tăng rất cao: Năm 2015 là 56,2 triệu tấn, năm 2020 là 112,3 triệu tấn, năm 2025 là 145,5 triệu tấn và đến năm 2030, sẽ phải tiêu thụ tới 220,3 triệu tấn. Nghịch lý này vẫn diễn ra nhiều năm qua!
Ông Nguyễn Quốc Khánh, TGĐ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) cho biết, năm 2015, PVN đã ký hợp đồng nguyên tắc với một công ty than ở Úc để nhập khoảng 3 triệu tấn/năm, phục vụ cho 3 nhà máy nhiệt điện than: Long Phú 1, Quảng Trạch 1 và Sông Hậu 1.
TGĐ Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) Đặng Hoàng An chia sẻ, nhu cầu tiêu thụ than nhập sẽ khoảng 10 triệu tấn/năm cho 3 dự án dùng than NK trong tương lai là Duyên Hải 3, Duyên Hải 3 mở rộng và Vĩnh Tân 4 (tổng công suất 3.000 MW).
TS. Trần Viết Ngãi, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (Vinacomin) cho rằng, sản lượng khai thác than của Vinacomin ngày càng giảm, trong khi nhu cầu của ngành điện ngày càng tăng. Việc NK than không hề đơn giản, bị phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Theo tính toán của Bộ Công thương, từ năm 2017 trở đi, Việt Nam sẽ phải NK than với khối lượng khoảng 5,5 triệu tấn và năm 2020, khoảng 26,5 triệu tấn.
TS. Ngô Đức Lâm, nguyên Cục trưởng Cục An toàn Kỹ thuật (Bộ Công thương) nói: Để phát triển 7 - 8% điện chạy bằng than thì phải sử dụng rất nhiều than và việc NK than là giải pháp không thể không tính đến.
Giải quyết “bài toán” thiếu hụt năng lượng, năm 2015, Chính phủ đã chỉ đạo dừng XK than. Bộ Công thương đã ban hành liên tiếp 2 thông tư (số 14 và 15/2013) về dừng XK than.
Tuy nhiên, mới đây (28/3), trong một văn bản gửi Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính nêu rõ kế hoạch XK than cục, than cám chất lượng cao trong thời gian tới vì “sản xuất và khai thác trong nước có dấu hiệu dư thừa”?
Trong khi, các nhà máy nhiệt điện hiện chủ yếu dùng nguyên liệu than cám?
Vẫn là “lợi ích nhóm”?
Phó TGĐ đốc TKV – ông Nguyễn Văn Biên khẳng định, vừa nhập, vừa xuất là chuyện hoàn toàn bình thường của một DN kinh doanh, không có gì là nghịch lý. Chúng ta đang XK những loại than mà trong nước chưa dùng đến, có chất lượng tốt và giá lại cao. Loại thứ hai là quá xấu, không sử dụng đến. Hiện chỉ có một số dự án của TKV mới dùng đến loại than này nên phải XK để tăng doanh thu.
Còn theo ông Nguyễn Trọng Khiêm, Chủ tịch Hội Địa chất than - khoáng sản Việt Nam thì: Ở bất kỳ nước nào cũng có chuyện nhập thì vẫn nhập, xuất thì vẫn cứ xuất, nhất là khi có những loại than tốt, nhưng nhu cầu trong nước hạn chế, xuất đi một, được lời hai.
Cũng theo ông Khiêm: “Việc tính toán xuất - nhập, cái gì cũng phải xuất phát từ thực tế nguồn tài nguyên có sẵn và nhu cầu phát triển nền kinh tế. Vấn đề là phải tính toán sao cho hợp lý, cân đối giữa nhu cầu trong nước, bảo đảm an ninh năng lượng với việc XK để tạo nguồn thu”.
Tuy nhiên, TS. Nguyễn Thành Sơn, nguyên Trưởng ban Chiến lược (Tập đoàn CN Than & Khoáng sản Việt Nam - TKV) thẳng thắn: “Lĩnh vực XNK than cho thấy rõ nhóm lợi ích. Việc XK than là của TKV - đòi độc quyền bằng được, còn khó khăn trong NK thì dường như TKV đứng ngoài cuộc và chỉ có những DN nào có sử dụng than, tự xoay sở NK than về để dùng”.
TS. Sơn nêu: “Chúng ta đã từng là nước XK năng lượng, nay đang phải NK năng lượng theo chiều hướng tăng. Điều này sẽ làm giảm đáng kể sức cạnh tranh của nền kinh tế”.
Anh Đức



















