Trước đó, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng đọc báo cáo về việc tiếp thu, giải trình và chỉnh lý Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) theo kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Với việc được Quốc hội thông qua, Luật Dầu khí (sửa đổi) sẽ giúp đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; tháo gỡ điểm nghẽn; đồng thời mở khung pháp lý cho chuỗi giá trị năng lượng mới, nhất là thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) và năng lượng ngoài khơi.
Nâng cao tính khả thi của Luật Dầu khí

Luật Dầu khí (sửa đổi) gồm 12 chương, 62 điều thay thế Luật Dầu khí năm 2022, được soạn thảo trên cơ sở 5 chính sách được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 81/NQ-CP ngày 3/4/2026. Luật Dầu khí (sửa đổi) kế thừa các điều khoản cơ bản của Luật Dầu khí hiện hành, bảo đảm tính ổn định, liên tục của các Hợp đồng dầu khí, Hiệp định đã ký kết; bảo đảm tính tương thích, đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và thông lệ công nghiệp dầu khí quốc tế.
Theo đánh giá của Bộ Công Thương, Luật Dầu khí (sửa đổi) năm 2026 giúp nâng cao tính thực tiễn, khả thi của Luật Dầu khí, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống luật pháp trong điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí, phù hợp với các cam kết quốc tế và thông lệ công nghiệp dầu khí quốc tế.
Luật giúp bảo đảm điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí được an toàn cho con người và tài sản, nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, đem lại hiệu quả, quyền lợi của quốc gia cũng như các nhà đầu tư trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia của Việt Nam và tuân thủ pháp luật Việt Nam.
Luật tạo điều kiện thuận lợi cho điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí, hạn chế tối đa những khó khăn, vướng mắc, sự không rõ ràng, chồng chéo, bất cập của hệ thống pháp luật.
Cùng đó, Luật nhằm tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài và tư nhân trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí trong bối cảnh hoạt động dầu khí ngày càng khó khăn, phức tạp nhất là những khu vực nước sâu, xa bờ, nhạy cảm về quốc phòng, an ninh trên Biển Đông.
Luật cũng giúp phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trong ngành dầu khí với mũi nhọn là dịch vụ dầu khí kỹ thuật cao tự chủ, phát triển dịch vụ dầu khí ra nước ngoài.
Ngoài ra, Luật nhằm phát triển kinh tế gắn với bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của quốc gia trên biển phù hợp với luật pháp quốc tế, đồng thời góp phần duy trì môi trường hòa bình và ổn định trên biển để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, phù hợp với Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam.
Đẩy mạnh phân cấp phân quyền

Một trong những điểm được quan tâm trong Luật Dầu khí (sửa đổi) là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong hoạt động dầu khí, qua đó rút ngắn quy trình xử lý đối với những nội dung chuyên ngành.
Theo Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng, mô hình này vận hành theo nguyên tắc đổi mới về quản trị cấp nào nắm rõ nhất về việc gì thì phải ra quyết định về việc đó. Theo đó, mô hình quản lý nhà nước sau khi được Quốc hội thông qua sẽ phân thành ba cấp cụ thể. Thứ nhất là cấp Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ: Quyết định những vấn đề vĩ mô, quan trọng như phân lô dầu khí, ưu đãi đầu tư và các vấn đề về quốc phòng, an ninh, đối ngoại (quy định cụ thể tại các Điều 7, Điều 14, Điều 20, Điều 41). Thứ hai là cấp cơ quan quản lý nhà nước: Bộ Công Thương được phân công làm đầu mối, phối hợp cùng các bộ, ngành và địa phương thực hiện vai trò quản lý nhà nước chuyên ngành; phê duyệt các nội dung như hợp đồng dầu khí, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, quản lý tài nguyên trữ lượng và thực hiện kiểm tra, giám sát. Thứ ba là cấp Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam): Với vai trò đại diện nước chủ nhà, Petrovietnam được giao một số quyền trong ký kết, quản lý, theo dõi, giám sát các hoạt động dầu khí; phê duyệt các nội dung cụ thể, kỹ thuật thuộc thẩm quyền, tận dụng bộ máy tổ chức đã hoạt động hiệu quả hàng chục năm qua.
Đồng bộ với việc phân cấp, cơ chế tổ chức giám sát được thiết kế chặt chẽ, theo đó khoản 10 Điều 58 quy định Chính phủ chi tiết hóa việc tổ chức kiểm tra, giám sát dựa trên dữ liệu của Petrovietnam và các nhà thầu báo cáo, thực hiện kiểm toán dựa trên định hướng rủi ro; khoản 3 Điều 59 quy định rõ trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong việc giám sát đầu tư, bảo toàn và phát triển vốn tại doanh nghiệp.
Theo Đại biểu Lê Ngọc Sơn, Chủ tịch Petrovietnam, phân cấp, phân quyền không chỉ là rút ngắn thủ tục, mà là thiết kế lại cơ chế quản trị theo hướng rõ vai trò, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm và rõ cơ chế kiểm soát. Nhà nước xác lập mục tiêu, nguyên tắc, tiêu chí và giám sát; chủ thể được giao quyền được chủ động trong phạm vi thẩm quyền và chịu trách nhiệm đến cùng về quyết định của mình. Đây cũng là yêu cầu của Nghị quyết 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước.
“Vì vậy, phân quyền không đồng nghĩa với giảm kiểm soát, mà đòi hỏi phương thức kiểm soát thực chất hơn, dựa trên minh bạch, quản trị rủi ro và kết quả. Đích đến là quyết định kịp thời hơn, trách nhiệm rõ hơn và nguồn lực được sử dụng hiệu quả hơn; qua đó tạo điều kiện để Petrovietnam thực hiện vai trò nòng cốt, dẫn dắt trong mô hình Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia”, Đại biểu Lê Ngọc Sơn nhấn mạnh.
Nhìn nhận về việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong Luật Dầu khí (sửa đổi), Đại biểu Lê Hữu Trí đánh giá việc sửa Luật đã rút ngắn thực chất chuỗi phê duyệt giữa thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Công Thương, giao Petrovietnam quyết định các nội dung chuyên môn kỹ thuật trong quá trình thực hiện hợp đồng dầu khí. Đây là cải cách thủ tục hành chính thực chất, giúp cắt bỏ tầng nấc trung gian, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp trong một lĩnh vực mà "một tháng chậm trễ có thể làm mất cơ hội hàng trăm triệu USD".
Thúc đẩy chuỗi giá trị năng lượng mới

Theo Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng, lần đầu tiên, khung pháp lý cho hoạt động thu giữ, lưu trữ carbon (CCS) và phát triển năng lượng ngoài khơi được đưa vào Luật Dầu khí (sửa đổi) (Chương 8 và 9) nhằm hình thành các khuôn khổ pháp lý trong quá trình dịch chuyển năng lượng và giảm phát thải, đồng thời tận dụng tối đa tài nguyên dữ liệu, công trình hạ tầng dầu khí đã đầu tư.
Phân tích tiềm năng theo một số nghiên cứu, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng nêu rõ, nếu được tận dụng và phát triển tốt, thị trường này có thể trở thành hoạt động dịch vụ của Việt Nam đối với khu vực Đông Nam Á, ước tính đạt giá trị khoảng 40 tỷ USD. Hiện nay, Petrovietnam đang hợp tác với các đối tác Nhật Bản nghiên cứu thử nghiệm nhốt giữ CO2 tại khu vực Bắc Bộ.
Theo Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng, việc phát triển năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí có ý nghĩa quan trọng trong phát triển chuỗi giá trị dầu khí, tiết kiệm tài nguyên và nâng cao hiệu quả khai thác dầu khí. Các dự án khai thác dầu khí cũng là những công trình sử dụng năng lượng rất lớn, việc tích hợp năng lượng tái tạo phục vụ tại chỗ, kết hợp sử dụng hạ tầng các công trình dầu khí hiện hữu (đường ống, giàn khoan) tiến tới điện phân hydrogen đưa vào bờ là hướng đi rất mới và tiến bộ, giúp thúc đẩy lộ trình dịch chuyển năng lượng và giảm phát thải.
Về nội dung này, Bộ trưởng Bộ Công Thương cho biết, Chính phủ cũng đã xây dựng hướng dẫn chi tiết trong Nghị định và dự kiến sẽ có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của Luật Dầu khí (sửa đổi).
Đánh giá tổng quan về dự thảo luật, Đại biểu Trịnh Xuân An nhấn mạnh điểm sáng nổi bật của lần sửa đổi này là không chỉ dừng lại ở hoạt động dầu khí truyền thống, mà đã từng bước mở ra không gian phát triển mới thông qua các quy định về thu giữ, lưu trữ carbon, năng lượng ngoài khơi và dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao. Điều này thể hiện rõ tư duy kiến tạo phát triển của ngành dầu khí trong giai đoạn mới. Đồng quan điểm, Đại biểu Dương Khắc Mai khẳng định việc sửa đổi Luật lần này có ý nghĩa đặc biệt, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế biển, thúc đẩy tăng trưởng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý phù hợp với xu thế chuyển dịch năng lượng.
Theo Đại biểu Lê Ngọc Sơn, Chủ tịch Petrovietnam, Luật Dầu khí (sửa đổi) mở rộng không gian phát triển cho ngành dầu khí từ chính nền tảng mà ngành đã tích lũy qua nhiều thập kỷ. Đây là cơ sở để Petrovietnam phát huy vai trò nòng cốt, dẫn dắt, chuyển hóa những nền tảng này thành năng lực tham gia các chuỗi giá trị năng lượng mới, nhất là năng lượng ngoài khơi và CCS.
Theo đó, dư địa mới có thể nhìn từ hai chiều. Thứ nhất là đưa các nguồn tài nguyên khó vào khai thác hiệu quả hơn, nâng cao hệ số thu hồi, kéo dài đời mỏ - tức làm tốt hơn với những nguồn lực đang có. Thứ hai là tạo cầu nối từ công nghiệp dầu khí sang các chuỗi giá trị năng lượng mới, trong đó có CCS và năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí, qua đó tận dụng hạ tầng sẵn có và mở ra khả năng thu hút các dòng vốn đầu tư mới. Điều này phù hợp với yêu cầu chuyển dịch năng lượng và mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Tuy nhiên, với CCS, Luật Dầu khí (sửa đổi) là bước mở đầu quan trọng về thể chế; về lâu dài vẫn cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đồng bộ cho toàn bộ chuỗi giá trị, Đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Petrovietnam Lê Ngọc Sơn cho biết.
Luật Dầu khí (sửa đổi) được kỳ vọng tạo bước chuyển mạnh về thể chế, từ rút ngắn thủ tục, phân định rõ trách nhiệm đến mở rộng không gian cho CCS và năng lượng ngoài khơi. Đây là nền tảng để Petrovietnam và các nhà đầu tư khai thác hiệu quả nguồn lực hiện có, đáp ứng nhu cầu an ninh năng lượng quốc gia cho tăng trưởng hai con số và phát triển chuỗi giá trị năng lượng mới, góp phần thực hiện mục tiêu chuyển dịch năng lượng và đưa phát thải ròng về “0” vào năm 2050.
Theo TTXVN






















