Nói đến thương hiệu biển là nói đến những cái tên, những sản phẩm gắn liền với các lĩnh vực hàng hải, hải sản, du lịch biển, khoáng sản biển, các ngành công nghiệp liên quan đến biển, các khu bảo tồn biển…

Theo đó, mỗi sản phẩm hàng hóa và dịch vụ gắn với biển đều là một “thông điệp”, một dấu mốc khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền của nước ta trên mỗi vùng biển, thể hiện Việt Nam là một quốc gia “mạnh về biển, làm giàu từ biển”.
Phát triển bằng công nghệ chậm tiến
Lịch sử nhiều quốc gia đã chứng minh rằng, từ xa xưa, con người đã có xu hướng bám biển để mưu sinh. Không ít quốc đảo, các nước có lãnh hải rộng lớn đã giàu có lên vì biết khai thác các tài nguyên từ biển. Có thể kể đến các nước vùng Địa Trung Hải, với sự phát triển rực rỡ của nền văn minh Hy Lạp - La Mã, hay Tây Ban Nha, Bồ Đào từ những thế kỷ XIV - XV, Anh quốc ở những thế kỷ XVII - XVIII, Nhật Bản thế kỷ XIX - XX và gần đây là quốc đảo Singapore.
Theo TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, những xứ sở phát triển nhất trong mỗi thời kỳ của lịch sử văn minh nhân loại đều là những quốc gia ven biển, quốc đảo, hay nói cách khác, đều là xứ sở của những dân tộc sinh sống gắn bó với biển, có “tư duy biển”.
Việt Nam tuy là một quốc gia có vùng biển hơn 1triệu km2, rộng gấp 3 lần đất liền và sinh sống bên cạnh “kho vàng” biển Đông, nhưng tiếc thay, Việt Nam chưa bao giờ được công nhận là đất nước có văn hóa biển, bởi tư duy của chúng ta mới chỉ thuần túy là “tư duy đất liền”.
PGS. TS. Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo (Bộ TN&MT), cho rằng, nước ta có nhiều lợi thế về biển, có “mặt tiền” hướng biển - thuận lợi cho giao thương và hội nhập kinh tế quốc tế, việc tiến ra biển, làm giàu từ kinh tế biển là chiến lược tất yếu trong phát triển kinh tế của đất nước.
Tuy nhiên, Việt Nam chưa phát huy được hết những tài nguyên từ biển. Nhìn lại hơn một nửa chặng đường thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến 2020 khi đi vào từng lĩnh vực của ngành kinh tế biển, chúng ta chưa thỏa mãn về kết quả thu được dù chiến lược đó có định hướng đúng, hệ thống quan điểm khung tư duy đúng, nhưng thực tiễn quá trình khai thác đã chứng minh mục tiêu phát triển kinh tế biển theo Nghị quyết số 09-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa X (2007) đến năm 2020 có thể không đạt được như dự án đề ra. TS. Hồi ước tính, đến năm 2020, kinh tế biển chiếm khoảng 53 - 55% GDP và 55 - 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Cũng theo TS Hồi, nước ta đang phát triển kinh tế biển bằng công nghệ chậm tiến và công nghệ tụt hậu. Chúng ta ra khơi bằng “hạm đội thuyền thúng”, các chính sách hỗ trợ ngư dân bám biển còn nhỏ giọt và mang tính “thời vụ” nên chỉ có thể “quay lưng ra biển” để đánh bắt gần bờ”.
TS. Hồi cho rằng, để đạt được mục tiêu đề ra đến 2020, Việt Nam phải chú trọng xây dựng và quảng bá thương hiệu biển. Nói đến thương hiệu biển là nói đến những cái tên, những sản phẩm gắn liền với các lĩnh vực hàng hải, hải sản, du lịch biển, khoáng sản biển, các ngành công nghiệp liên quan đến biển, các khu bảo tồn biển. Những cái tên này, nếu trở nên nổi tiếng, trở thành thương hiệu - sẽ làm cho các doanh nghiệp, các địa phương cung cấp các dịch vụ, sản xuất ra các sản phẩm đó cũng sẽ trở nên nổi tiếng. Nhiều doanh nghiệp và địa phương có các thương hiệu nổi tiếng, sẽ làm cho Việt Nam nổi tiếng về các dịch vụ và sản phẩm liên quan đến biển, Việt Nam sẽ trở thành quốc gia biển.
Cần phát triển thương hiệu biển
Thực tế đã chứng minh, người dân Việt Nam có ý thức làm giàu từ biển, nhưng “chưa đến nơi đến chốn”, khai thác tài nguyên biển mới chỉ dừng lại ở đánh cá gần bờ, ven bờ, hạn chế về khoa học - kỹ thuật, nhất là kỹ nghệ đóng tàu.
Chính vì vậy, để phát triển kinh tế biển và khẳng định chủ quyền biển đảo, TS. Trần Đình Thiên nhận định, nhất thiết chúng ta cần thay đổi tư duy, có cách nhìn mới, cách nghĩ mới, lấy con người làm trung tâm của kinh tế biển, phát triển kinh tế biển trên cơ sở bảo đảm môi trường bền vững, hình thành nền văn hóa biển.
PGS. TS. Nguyễn Chu Hồi nhận định, hiện số lượng các sản phẩm có thương hiệu trên thế giới tập trung ở dầu khí, hàng hải và một số doanh nghiệp xuất khẩu hải sản; trong khi đó, nhiều lĩnh vực như cảng biển, dịch vụ hàng hải, dịch vụ du lịch… hầu như không có. Ở Việt Nam, những thương hiệu kinh tế biển vẫn chưa tạo được dấu ấn đậm nét trong lòng khách hàng trong nước và quốc tế.
TS. Hồi lưu ý, ở quy mô quốc gia, chúng ta cần sớm đưa ra một kế hoạch hành động chung xây dựng thương hiệu biển Việt Nam do Chính phủ đề ra với sự tham gia, hưởng ứng từ phía các doanh nghiệp và cộng động. Ở quy mô địa phương, các tỉnh, thành phố ven biển cần thực thi có hiệu quả chiến lược thương hiệu của các địa phương, theo các nhóm thương hiệu phù hợp với đặc trưng vùng, miền và thế mạnh của mình. Bên cạnh đó, các bộ, ngành trung ương cần đưa ra những cơ chế, chính sách ưu đãi đặc thù để hỗ trợ một số địa phương tạo dựng được hoặc tiếp tục duy trì, phát triển các thương hiệu đẳng cấp quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực du lịch nghỉ dưỡng… Về phía cộng đồng, cần phấn đấu trở thành “đại sứ tiếp thị” cho thương hiệu biển Việt Nam trong việc tạo dựng và bảo vệ thương hiệu của địa phương mình. Và cuối cùng, để có thể hợp tác quốc tế về biển thì điều kiện thiết yếu là Nhà nước phải có tư duy kinh tế biển và trình độ quản lý tương ứng.
Bàn về vấn đề phát triển kinh tế biển và làm tốt định hướng đề ra về phát triển kinh tế biển theo Nghị quyết 09-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Khóa X (2007), các chuyên gia về biển đưa ra nhận định, để phát triển thương hiệu biển, mỗi sản phẩm hàng hóa và dịch vụ gắn với biển đều là một “thông điệp”, một dấu mốc khẳng định chủ quyền của nước ta trên mỗi vùng biển, thể hiện Việt Nam là một quốc gia “mạnh về biển, làm giàu từ biển”.
Hy vọng, với những lợi thế sẵn có, “Chiến lược biển đến năm 2020”, cùng những chương trình hành động cụ thể và nhất là những chính sách ngoại giao, chính trị và kinh tế nhất quán hơn, Việt Nam sẽ trở thành cường quốc về biển.
Hoan Nguyễn




















