Bảo đảm nguồn lực cho chiến lược dài hạn

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt ra yêu cầu đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển và sức mạnh mềm quốc gia. Để hiện thực hóa mục tiêu này, nguồn lực tài chính cần được nhìn nhận như một khoản đầu tư chiến lược, thay vì chỉ là chi tiêu cho hoạt động văn hóa thường xuyên.

Trong đó yêu cầu bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa, đồng thời tăng dần theo yêu cầu thực tiễn, là cơ sở quan trọng để triển khai các nhiệm vụ dài hạn. Trong giai đoạn 2026-2030, Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa có tổng mức 122.250 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước 107.250 tỷ đồng.

Riêng năm 2026, Thủ tướng Chính phủ giao bổ sung 2.300 tỷ đồng kinh phí thường xuyên và 5.300 tỷ đồng kế hoạch đầu tư công ngân sách trung ương để thực hiện chương trình.

Phát huy bản sắc gắn với sáng tạo và hội nhập là hướng đi quan trọng để gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.
Phát huy bản sắc gắn với sáng tạo và hội nhập là hướng đi quan trọng để gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.

Đáng chú ý, Nghị quyết số 46/2026/QH16 ngày 24/8/2026 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035, với tổng nguồn lực giai đoạn 2026-2030 là 808.558 tỷ đồng.

Việc đặt văn hóa trong mối liên hệ với phát triển xã hội, nông thôn và vùng dân tộc thiểu số mở rộng cơ hội khai thác giá trị bản sắc địa phương, phát triển du lịch, sản phẩm sáng tạo và sinh kế bền vững.

Chuyển hóa giá trị văn hóa thành sức mạnh mềm

Nguồn lực lớn chỉ phát huy hiệu quả khi đi kèm cơ chế phân bổ phù hợp. Định hướng quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra, được cụ thể hóa qua Nghị định số 73/2026/NĐ-CP và Nghị định số 282/2026/NĐ-CP, mở ra hướng tiếp cận mới trong đầu tư cho hoạt động sáng tạo văn hóa.

Theo đó, trọng tâm không chỉ là chi bao nhiêu, mà còn là khoản đầu tư tạo ra sản phẩm, giá trị xã hội và sức lan tỏa như thế nào. Cơ chế đặt hàng, khoán chi nếu được triển khai hiệu quả có thể khuyến khích các đơn vị nâng cao chất lượng sáng tạo, tăng trách nhiệm giải trình và phát triển những sản phẩm có khả năng tiếp cận công chúng rộng rãi.

Cùng với ngân sách nhà nước, việc huy động doanh nghiệp, khu vực tư nhân, cộng đồng sáng tạo và các tổ chức xã hội tham gia sẽ giúp mở rộng không gian phát triển văn hóa. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, định hướng và dẫn dắt; thị trường tạo thêm động lực đầu tư, đổi mới và đưa sản phẩm văn hóa Việt Nam ra thế giới.

Việc quy hoạch quỹ đất cho các khu, trung tâm công nghiệp văn hóa giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 cũng tạo nền tảng hạ tầng cho các ngành công nghiệp sáng tạo.

Sức mạnh mềm quốc gia được hình thành từ bản sắc, chất lượng sản phẩm, năng lực sáng tạo và khả năng kết nối quốc tế. Vì vậy, thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW không chỉ là bảo tồn những giá trị truyền thống, mà còn phải tạo điều kiện để các giá trị ấy được đổi mới, lan tỏa và chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh.

Khi văn hóa vừa là nền tảng tinh thần, vừa trở thành nguồn lực kinh tế và cầu nối đối ngoại, Việt Nam sẽ có thêm cơ sở để nâng cao sức hấp dẫn quốc gia, đóng góp vào mục tiêu phát triển nhanh, bền vững.

Nam Sơn (t/h)