THCL Theo Bộ Y tế, Chương trình tư vấn xét nghiệm tự nguyện (VCT) của Việt Nam đã được mở rộng trong những năm gần đây, với số lượng điểm VCT và khách hàng VCT tăng từ 157 điểm năm 2005 lên 485 điểm trong năm 2013.

Tuy vậy, số phòng VCT đã giảm xuống còn 270 điểm trong năm 2014, các điểm VCT hoạt động thiếu hiệu quả với số khách hàng thấp đã bị đóng cửa. Trong khi đó, các mô hình tư vấn xét nghiệm lưu động và tư vấn xét nghiệm do nhân viên y tế đề xuất ngày càng mở rộng.

Đến hết tháng 5/2015, toàn quốc hiện có 1.345 cơ sở y tế cung cấp dịch vụ tư vấn và xét nghiệm HIV, có 95 phòng được phép khẳng định HIV dương tính và 1.250 phòng xét nghiệm sàng lọc HIV. Tư vấn xét nghiệm cho 260.000 người trong đó có 5.000 lượt người có kết quả HIV dương tính. Tỷ lệ tiếp cận dịch vụ TVXN (được xét nghiệm và biết kết quả XN) trong các nhóm có hành vi nguy cơ cao như NCMT, PNBD, MSM lần lượt trong năm 2014 là 28.1%, 38.4% và 39.4%.

Bộ Y tế đang triển khai mở rộng dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV thông qua các dịch vụ tư vấn xét nghiệm lưu động, phối hợp với các tổ chức cộng đồng tư vấn và chuyển gửi người có nguy cơ lây nhiễm HIV đến cơ sở y tế làm xét nghiệm HIV. Năm 2014, Bộ Y tế đã phê duyệt phương cách xét nghiệm HIV mới, theo đó áp dụng 3 xét nghiệm nhanh để chẩn đoán sơ bộ nhiễm HIV và cho kết quả trong cùng ngày. Phương cách này sẽ được triển khại tại các tuyến cung cấp dịch vụ. Kết quả xét nghiệm HIV sẽ được khẳng định tại phòng xét nghiệm tuyến quận huyện. Để tăng cường tính tiếp cận, xét nghiệm HIV được giới thiệu qua nhiều cách thức như: cán bộ y tế đề xuất, người sử dụng dịch vụ tự đề xuất, và xét nghiệm di động. Các tổ chức xã hội cũng được huy động tham gia giới thiệu người có nguy cơ cao tới các dịch vụ xét nghiệm HIV.

Tại Việt Nam, hệ thống giám sát dịch HIV/AIDS đã hình thành từ năm 1987, 3 năm sau Việt Nam phát hiện ca nhiễm HIV đầu tiên, đến năm 1994 bắt đầu triển khai hệ thống giám sát trọng điểm HIV hàng năm thực hiện lấy mẫu định kỳ trong các nhóm nguy cơ cao để đánh giá tỷ lệ hiện nhiễm HIV tại 8 tỉnh/thành phố. Bên cạnh đó hệ thống giám sát trọng điểm theo dõi tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ mang thai để đánh giá nguy cơ lây nhiễm HIV tại cộng đồng. Đến nay, có 40 tỉnh/thành phố triển khai giám sát trọng điểm hàng năm. Một số tỉnh đã triển khai giám sát trọng điểm kết hợp với giám sát hành vi và giám sát STI. Song song là hệ thống báo cáo ca bệnh để thu thập báo cáo các trường hợp nhiễm HIV trên toàn quốc. Phần mềm HIV Info 2.1 được cập nhật thành phiên bản HIV Info 3.0 giúp các cán bộ TD-ĐG báo cáo chính xác hơn về các trường hợp HIV ở địa phương.  Biểu mẫu báo cáo chương trình và cơ sở dữ liệu cho việc theo dõi thường quy (theo Quyết định 28 và Thông tư 03) đã được triển khai trên toàn quốc. Các hoạt động theo dõi, đánh giá được triển khai định kỳ.

Số liệu từ các nguồn khác nhau được lưu trữ tại tuyến Trung ương, được đối chiếu và sử dụng để xây dựng kế hoạch và báo cáo hàng năm, xây dựng Báo cáo Quốc gia về Tiến độ Chương trình AIDS và Báo cáo Tiếp cận phổ cập… Nghiên cứu IBBS, HSS/HSS+ đã được sử dụng để cung cấp thông tin đầu vào cho hoạt động ước tính và dự báo tình hình dịch (sử dụng phần mềm EPP/SPECTRUM), và đưa ra các kịch bản về đầu tư nguồn lực hiệu quả (sử dụng mô hình AEM cũng như đánh giá tác động của chương trình (sử dụng Mô hình Vietnam HIV Model năm 2011). Các hoạt động này đã góp phần cung cấp thông tin cho việc hoạch định chính sách và lập kế hoạch ở cấp quốc gia, cũng như giúp huy động nguồn lực trong và ngoài nước cho chương trình.

Phương pháp đánh giá kết quả can thiệp dựa vào phân tích bậc thang đã giúp cán bộ chương trình tại tuyến quận/huyện phát hiện và cải thiện các hạn chế trong quá trình tiếp cận dịch vụ từ dự phòng tới chăm sóc và điều trị của nhóm quần thể có nguy cơ cao. Phân tích bậc thang là công cụ hữu ích và hiệu quả để giám sát đáp ứng với dịch HIV. Để thực hiện được phương pháp phân tích này, các chương trình can thiệp cần liên kết với nhau. Cục phòng chống HIV/AIDS đang làm việc cùng với các đối tác để xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử để quản lý, phân tích và cung cấp báo cáo cho chương trình chăm sóc điều trị, kết nối với phần mềm HIVinfo có thông tin về các trường hợp HIV.

Gia Linh (Thương hiệu và Công luận)