Trong bối cảnh giá dầu thô và sản phẩm xăng dầu thế giới tăng mạnh do xung đột tại Trung Đông, việc hạn chế xuất khẩu dầu thô, ưu tiên dự trữ trong nước và điều hành linh hoạt giá bán chính là giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm nguồn cung xăng dầu và an ninh năng lượng quốc gia.
Gián đoạn nguồn cung và biến động mạnh giá dầu
Là tuyến vận tải năng lượng chiến lược quan trọng nhất thế giới, kết nối các nước sản xuất dầu chủ chốt khu vực Vùng Vịnh với thị trường tiêu thụ toàn cầu, đặc biệt là khu vực châu Á, theo thống kê của Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA), khối lượng dầu và khí ngưng tụ condensate đi qua Eo biển Hormuz đạt khoảng 20 triệu thùng/ngày, tương đương gần 20% tổng tiêu thụ dầu toàn cầu và chiếm hơn 25% tổng thương mại dầu bằng đường biển.

Đặc biệt, khoảng 84% dòng dầu qua Hormuz hướng tới thị trường châu Á, khiến khu vực này trở thành nơi chịu tác động trực tiếp và nhanh nhất khi có bất kỳ biến động nào xảy ra.
Trong khi đó, cho dù các quốc gia xuất khẩu dầu thô và sản phẩm xăng dầu lớn của thế giới như Saudi Arabia hay UAE có hệ thống đường ống phụ bypass dẫn dầu (được thiết kế song song với đường ống chính nhưng tổng công suất thay thế chỉ khoảng 2,6 triệu thùng/ngày, không đủ để bù đắp nếu tuyến hàng hải đi qua Eo biển Hormuz bị gián đoạn nghiêm trọng.
Vì vậy, tình trạng gián đoạn vận tải qua eo biển Hormuz sẽ ảnh hưởng lớn tới mức phụ phí giá dầu, chi phí logistics và bảo hiểm hàng hải cũng như khả năng ổn định nguồn cung cho các nhà máy lọc dầu ở châu Á.
Theo đánh giá của IEA và nhiều tổ chức phân tích, thị trường hiện vẫn trong trạng thái cung ứng tương đối đầy đủ; do đó biến động giá dầu chủ yếu phản ánh phần bù rủi ro (risk premium) và rủi ro logistics hơn là thiếu hụt vật lý. Các chuyên gia từ Ngân hàng Barclays và Reuters consensus cho rằng chỉ cần gián đoạn nguồn cung khoảng 1 triệu thùng/ngày cũng có thể triệt tiêu phần dư thừa toàn cầu hiện nay.
Trong khi đó, J.P. Morgan sáng 28/2 đã tái khẳng định khung phân tích rủi ro (đưa ra vào năm 2025): Nếu sản lượng 2,1 triệu thùng dầu/ngày của Iran bị gián đoạn, giá dầu Brent sẽ ngay lập tức hướng tới mục tiêu 120 USD/thùng.
Goldman Sachs cũng cảnh báo về sự thiếu hụt năng lực sản xuất dự phòng toàn cầu. Với việc tồn kho thương mại của các nước OECD đang ở mức thấp, bất kỳ sự gián đoạn nguồn cung thực tế nào từ 1 triệu thùng/ngày trở lên sẽ cộng thêm ít nhất 20 - 25 USD vào giá dầu thô hiện hành.
Về Logistics, S&P Global và Reuters đã cảnh báo phí bảo hiểm rủi ro chiến tranh cho tàu dầu qua eo biển Hormuz sẽ tăng vọt 300-500%.
Kích hoạt ưu tiên dự trữ dầu thô trong nước
Ông Nguyễn Việt Thắng - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Lọc Hóa Dầu Bình Sơn (BSR) – đơn vị thành viên của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) cho biết, hiện nhà máy lọc dầu Dung Quất đang sử dụng khoảng 30–35% dầu thô nguyên liệu nhập khẩu, chủ yếu từ Tây Phi, khu vực Địa Trung Hải, Mỹ và một phần từ Trung Đông. Vì vậy, nếu xung đột tại Trung Đông kéo dài, giá dầu, phụ phí, cước vận chuyển và phí bảo hiểm có thể tiếp tục tăng mạnh, làm gia tăng đáng kể chi phí đầu vào và rủi ro tài chính.

Ngay từ đầu năm 2026, nhằm chuẩn bị cho mục tiêu tăng trưởng hai con số và chủ động ứng phó với các tình huống bất thường của thế giới cũng như tác động của biến đổi khí hậu, BSR đã chủ động nâng mức tồn kho, điều hành sản xuất linh hoạt theo nhu cầu thị trường và đa dạng hóa nguồn nguyên liệu. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Công Thương và Petrovietnam, BSR đã ký thỏa thuận cung cấp dầu thô với hai tập đoàn năng lượng lớn của Mỹ là ExxonMobil và Chevron nhằm bảo đảm nguồn cung ổn định và góp phần giảm chênh lệch cán cân thương mại Việt Nam – Mỹ.
Trong giai đoạn tháng 3–5/2026, BSR đã ký hợp đồng mua khoảng 3 triệu thùng dầu thô nhập khẩu thông qua các đầu mối (Qua Iboe, Bu Attifel, Medanito và Palanca Blend). Mặc dù các nguồn này không thuộc khu vực xung đột trực tiếp, căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông vẫn có thể tác động gián tiếp đến tiến độ giao hàng, chi phí vận tải, bảo hiểm và an toàn hàng hải.
Đáng chú ý, với nhu cầu mua bổ sung theo hợp đồng chuyến trong tháng 5/2026 ước khoảng 900 nghìn đến 1 triệu thùng và tháng 6/2026 khoảng 1–1,3 triệu thùng, việc vận hành nhà máy ở mức 118–120% công suất sẽ chịu áp lực lớn về giá cả và khả năng tiếp cận nguồn hàng.
Cũng theo Tổng Giám đốc BSR Nguyễn Việt Thắng, trong tháng 2 vừa qua, BSR đã triển khai mua cấu tử xăng có trị số octane cao để phối trộn nhưng do nguồn cung khan hiếm và thị trường biến động mạnh, BSR chưa thể mua đủ khối lượng theo kế hoạch, ảnh hưởng đến phương án gia tăng chế biến trong tháng 3/2026. Để đạt công suất quy đổi tối thiểu 120% (bao gồm dầu thô và nguyên liệu trung gian), BSR đang nỗ lực tìm kiếm và mua bổ sung nguồn nguyên liệu trong tháng 3–4/2026, làm gia tăng áp lực mua hàng trong bối cảnh thị trường bất lợi.
Bên cạnh yếu tố giá, một rủi ro khác là khả năng gián đoạn chuỗi cung ứng do một số quốc gia có thể hạn chế xuất khẩu để ưu tiên nhu cầu nội địa, trong bối cảnh thị trường vận tải biển và bảo hiểm biến động khó lường, thời gian giao hàng kéo dài. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch vận hành nhà máy, đặc biệt trong giai đoạn cuối quý II và đầu quý III/2026, Tổng Giám đốc BSR Nguyễn Việt Thắng chia sẻ.
Thực tế cho thấy, khi xảy ra bất ổn địa chính trị và xung đột tại Trung Đông, nhu cầu đối với dầu thô nội địa sẽ gia tăng, dẫn đến cạnh tranh gay gắt trong các đợt đấu thầu quốc tế mua dầu thô Việt Nam.
Để giảm thiểu nguy cơ thiếu hụt dầu thô nguyên liệu khiến nhà máy lọc dầu Dung Quất phải điều chỉnh giảm công suất hoặc không hoàn thành kế hoạch được giao, BSR đã kiến nghị các cấp có thẩm quyền và Petrovietnam xem xét cơ chế ưu tiên cho BSR được mua tối đa dầu thô và khí ngưng tụ condensate khai thác trong nước. Đồng thời, cơ quan quản lý cần áp dụng cơ chế tạm thời ưu tiên dầu thô nội địa cho nhà máy lọc dầu Dung Quất để chế biến xăng dầu thành phẩm, cũng như hạn chế xuất khẩu dầu thô nội địa trong giai đoạn cao điểm rủi ro (đến hết quý III/2026 hoặc đến khi thị trường quốc tế ổn định), nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Đặc biệt, để bảo đảm đủ dầu phục vụ vận hành trong tháng 5–6/2026, BSR đề nghị được phép mua trực tiếp dầu thô từ các lô Ruby, Bunga Orkid (BO) và Chim Sáo giao trong giai đoạn này theo mức giá chào thầu cao nhất của kỳ gần nhất, như một giải pháp tình thế nhằm bảo đảm nguồn cung kịp thời trong bối cảnh thị trường biến động mạnh.

Theo PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, giảng viên cao cấp tại Viện Thương mại và Kinh tế Quốc tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU), đối với Việt Nam, khi giá dầu thế giới tăng, chi phí nhập khẩu nhiên liệu trong nước gần như chắc chắn sẽ chịu áp lực đi lên. Điều này không chỉ tác động đến giá xăng dầu bán lẻ, mà còn lan sang chi phí vận tải, sản xuất, logistics và mặt bằng giá chung của nền kinh tế.
Vì vậy, Việt Nam cần đặc biệt lưu ý đến chiến lược dự trữ để có thể giảm đáng kể cú sốc chi phí khi thị trường bước vào giai đoạn tăng nóng. Việc chậm trễ trong dự trữ sẽ khiến chi phí nhập khẩu đội lên rất nhanh, làm giảm dư địa điều hành giá trong nước.
Ông Nguyễn Thường Lạng cũng đề xuất Chính phủ cần sớm xây dựng các kịch bản dự báo chính thức, đặt trong giả định xấu nhất về giá dầu. Việc chuẩn bị trước giúp cơ quan điều hành không bị động khi thị trường biến động mạnh, đồng thời tạo cơ sở cho các quyết sách về dự trữ, điều tiết và ổn định tâm lý xã hội.
Với dầu mỏ, chiến lược dự trữ dài hạn, kết hợp các công cụ như hợp đồng mua trước, hợp đồng tương lai cần được tính toán nghiêm túc. Cùng đó, giải pháp đa dạng hóa nguồn năng lượng, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu từ các khu vực rủi ro cao. Đây cũng là cơ hội để thúc đẩy chuyển dịch sang các nguồn năng lượng sạch và năng lượng thay thế, vừa giảm áp lực chi phí, vừa phù hợp xu thế dài hạn.
Linh hoạt trong điều hành giá
Là thương nhân đầu mối lớn thứ hai tại thị trường xăng dầu trong nước, Chủ tịch Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PVOIL) Cao Hoài Dương cho biết, trong điều kiện bình thường, việc tạo nguồn của PVOIL chủ yếu đến từ hai nhà máy lọc dầu tại Việt Nam là Dung Quất và Nghi Sơn (chiếm 80%), còn lại 20% sản lượng được nhập khẩu chủ yếu từ Singapore và Hàn Quốc.

Hiện PVOIL cũng đã ký hợp đồng dài hạn nhập xăng dầu với hai nhà máy trong nước và các nhà cung ứng xăng dầu nước ngoài để đảm bảo nguồn cung xăng dầu trong nước. Với việc xung đột Trung Đông xảy ra, trong suốt hai ngày vừa qua, PVOIL đã làm việc với lãnh đạo hai nhà máy lọc dầu Nghi Sơn và Bình Sơn. Tại các buổi làm việc này, đại diện hai nhà máy lọc dầu đều khẳng định đảm bảo cung ứng đủ sản lượng hợp đồng đã cam kết trong tháng Ba này do hai nhà máy đã chuẩn bị sẵn lượng dầu thô tồn kho dự phòng.
Tuy nhiên, việc cung ứng xăng dầu của hai nhà máy lọc dầu này trong tháng 4 và tháng 5 tới đây có đáp ứng được đủ như hợp đồng cam kết hay không còn phụ thuộc nhiều vào tình hình chiến sự. Vì vậy chính sách điều hành giá xăng dầu trong nước trong thời điểm chiến sự cũng cần linh hoạt, tính đúng, tính đủ chi phí, phụ phí nhập khẩu để các thương nhân đầu mối nhập khẩu xăng dầu đảm bảo đủ nguồn tài chính trong cung ứng xăng dầu cho thị trường trong nước, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, Chủ tịch PVOIL cho biết.
Thực tế cho thấy khi chiến sự xảy ra giữa Nga và Ukraine vào đầu năm 2022, giá dầu thế giới đã tăng đột biến trong khi giá bán xăng dầu trong nước không kịp điều chỉnh phù hợp khiến giá nhập khẩu xăng dầu thành phẩm cao hơn giá bán. Hệ quả là các thương nhân đầu mối xăng dầu tư nhân dừng nhập khẩu để tránh lỗ, dẫn tới thiếu hụt nguồn cung cục bộ tại thị trường trong nước. Khi đó, nhiệm vụ đảm bảo nguồn cung xăng dầu trong nước được đặt lên vai hai doanh nghiệp nhà nước là PVOIL và Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) thay vì 33 thương nhân đầu mối như quy định, Chủ tịch Cao Hoài Dương cảnh báo.
Theo TTXVN
























