An Giang là một trong những địa phương tiêu biểu tham gia đề án với mục tiêu xây dựng vùng lúa chất lượng cao, hướng tới quy mô 1 triệu héc-ta. Riêng năm 2025, diện tích tham gia mô hình tại tỉnh đạt hơn 44.000ha. Theo lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang, đây là nền tảng quan trọng để hình thành vùng sản xuất tập trung, đồng đều về chất lượng, qua đó thu hút doanh nghiệp đầu tư, liên kết và tiêu thụ sản phẩm lâu dài.

An Giang là một trong những địa phương tham gia dự án phát triển vùng nguyên liệu tập trung với mục tiêu hướng đến 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao.
An Giang là một trong những địa phương tham gia dự án phát triển vùng nguyên liệu tập trung với mục tiêu hướng đến 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao.

Hiệu quả kinh tế từ vùng nguyên liệu được thể hiện rõ qua các con số. Năng suất lúa bình quân tại An Giang tăng từ 5,8 lên 6,5 tấn/ha; thu nhập bình quân của người dân trong vùng dự án tăng từ 38 lên 47 triệu đồng/người/năm. Đề án cũng tạo thêm khoảng 4.500 việc làm mới, chủ yếu trong các khâu vận hành hạ tầng, cơ giới hóa và dịch vụ hậu cần nông nghiệp. Đối với nông dân, tham gia vùng nguyên liệu đồng nghĩa với việc giảm rủi ro thị trường. Nhờ hợp tác xã đứng ra ký kết hợp đồng bao tiêu, sản phẩm được bán với giá ổn định, cao hơn mặt bằng chung, hạn chế tình trạng bị ép giá khi được mùa.

Không chỉ dừng ở cây lúa, mô hình vùng nguyên liệu còn phát huy hiệu quả với cây ăn quả tại Đồng Tháp. Sau bốn năm triển khai, diện tích cây ăn quả toàn tỉnh đạt gần 134.500ha, tăng hơn 10.000ha so với năm 2022; sản lượng ước đạt 2,5 triệu tấn. Các vùng thuộc đề án thí điểm chiếm khoảng 107.000ha, đóng vai trò hạt nhân trong chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp. Tỉnh đang tiếp tục quy hoạch, chuyển đổi những diện tích sản xuất kém hiệu quả sang chuyên canh cây ăn quả đặc sản, thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn.

Trong lĩnh vực lâm nghiệp, phát triển vùng nguyên liệu gỗ rừng trồng cũng ghi nhận những thay đổi tích cực. Tại thành phố Huế, hệ thống đường lâm sinh được đầu tư đồng bộ đã kết nối hiệu quả nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Nhờ hạ tầng cải thiện, diện tích rừng trồng gỗ lớn của các hợp tác xã tăng nhanh, giá trị kinh tế trên mỗi héc-ta tăng từ 20–25%, thu nhập người trồng rừng tăng bình quân 5–10% mỗi năm.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giai đoạn 1 của đề án đã huy động hơn 400 tỷ đồng đầu tư hạ tầng giao thông, thủy lợi và logistics cho các vùng nguyên liệu. Sau bốn năm, hàng trăm ki-lô-mét đường nội vùng, cầu, cống, trạm bơm, kho bãi được đưa vào sử dụng, giúp giảm chi phí vận chuyển 20–35%, rút ngắn một nửa thời gian lưu thông, giảm tổn thất sau thu hoạch và tạo điều kiện sản xuất quy mô lớn.

Tuy vậy, các địa phương và doanh nghiệp đều cho rằng để nhân rộng mô hình, cần tiếp tục tăng đầu tư hạ tầng, đẩy nhanh cấp mã số vùng trồng, đồng thời phát triển hệ sinh thái liên kết chặt chẽ giữa nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp – nhà khoa học. Giai đoạn 2 của đề án đang được khởi động, với trọng tâm là phát triển vùng nguyên liệu theo chuỗi giá trị, đáp ứng tiêu chuẩn của các nhà máy chế biến và yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, vùng nguyên liệu không chỉ là giải pháp kỹ thuật, mà là lựa chọn mang tính chiến lược. Xây dựng được nền móng vững chắc từ vùng nguyên liệu chính là điều kiện tiên quyết để nông nghiệp Việt Nam chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu, hướng tới hiện đại, xanh và bền vững.

Nam Sơn (t/h)