Ba thách thức lớn cùng hội tụ
Năm 2025, hạn hán, xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long; mưa lũ, sạt lở đất tại các tỉnh miền núi phía Bắc; bão mạnh, triều cường ở khu vực ven biển… đã tác động trực tiếp đến vùng nguyên liệu, chuỗi sản xuất và logistics xuất khẩu nông lâm thủy sản.
Năm 2025 còn là thời điểm ngành nông nghiệp và môi trường bước vào giai đoạn hợp nhất, kiện toàn tổ chức bộ máy. Việc sắp xếp lại chức năng, nhiệm vụ, tinh gọn đầu mối, phân công lại nguồn lực là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, quá trình này cũng đặt ra không ít thách thức: áp lực công việc tăng cao, yêu cầu phối hợp liên ngành phức tạp hơn, đòi hỏi sự ổn định và thông suốt trong chỉ đạo, điều hành.
Trong khi đó, thị trường xuất khẩu quốc tế tiếp tục biến động mạnh. Các tiêu chuẩn về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon, phát triển bền vững ngày càng khắt khe. Cạnh tranh giữa các quốc gia xuất khẩu nông sản ngày càng gay gắt, đặc biệt ở những thị trường lớn, truyền thống.
Ba thách thức lớn như thiên tai, tổ chức bộ máy, thị trường cùng hội tụ, tạo nên những “làn sóng ngược” đối với xuất khẩu nông lâm thủy sản Việt Nam trong năm 2025.
Giữa những thách thức nói trên, kết quả xuất khẩu nông lâm thủy sản năm 2025 vẫn đạt mức tăng trưởng tích cực, nhiều ngành hàng chủ lực giữ vững đà tăng và mở rộng thị phần. Đây là tín hiệu cho thấy nông nghiệp không chỉ là “trụ đỡ” trong thời điểm khó khăn, mà đang từng bước khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng bền vững của nền kinh tế.
Những điểm sáng nổi bật
Theo báo cáo đến ngày 30/11/2025, tất cả các nhóm hàng xuất khẩu đều tăng so với cùng kỳ năm trước, tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 64,01 tỷ USD, tăng 12,6% và đạt 98,4% (vượt mục tiêu 11 tháng năm 2025); trong đó: Nông sản 34,24 tỷ USD, tăng 15%; Lâm sản 16,61 tỷ USD, tăng 5,9%; Thuỷ sản 10,38 tỷ USD, tăng 13,2%; Sản phẩm chăn nuôi 567,4 triệu USD, tăng 16,8%; Đầu vào sản xuất 2,2 tỷ USD, tăng 29,9%.

Quan trọng hơn, thành quả xuất khẩu không bị đứt gãy trong giai đoạn chuyển tiếp tổ chức bộ máy cho thấy sự ổn định trong điều hành, sự chủ động trong chính sách và khả năng thích ứng linh hoạt của toàn ngành. Dòng chảy sản xuất, chế biến và xuất khẩu được giữ vững, tạo niềm tin cho doanh nghiệp, người sản xuất và các đối tác quốc tế.
Đối với lĩnh vực trồng trọt, theo báo cáo, hầu hết các mặt hàng chủ lực đều tăng khối lượng và giá trị xuất khẩu cao hơn cùng kỳ năm trước, như: Cà phê 1,4 triệu tấn (+14,1%) với 7,88 tỷ USD (+59,7%); cao su 1,7 triệu tấn (giảm 6,8%) với 2,89 tỷ USD (giảm 2,4%); điều 698,1 nghìn tấn (+ 4%) với 4,76 tỷ USD (+ 19,5%); hồ tiêu 222,2 nghìn tấn (-5,5%) với 1,5 tỷ USD (+23,3%); sắn và sản phẩm sắn 3,6 triệu tấn (+ 55,6%) với 1,13 tỷ USD (+ 8,1%). Riêng gạo 7,5 triệu tấn với 3,83 tỷ USD (giảm 11,5% về khối lượng và giảm 27,7% về giá trị)…
Từ những số liệu thống kê cho thấy, trong cơ cấu xuất khẩu, nhóm nông sản chủ lực tiếp tục đóng vai trò nền tảng. Lúa gạo, sầu riêng, cà phê, hồ tiêu, rau quả… không chỉ duy trì sản lượng mà còn từng bước nâng cao giá trị gia tăng.
Điểm đáng chú ý là sự chuyển dịch rõ nét trong tư duy sản xuất và xuất khẩu. Thay vì chạy theo số lượng, nhiều ngành hàng đã chú trọng hơn đến chất lượng, thương hiệu và phân khúc thị trường. Gạo chất lượng cao, gạo đặc sản; cà phê chế biến sâu; trái cây đáp ứng tiêu chuẩn thị trường khó tính… đang dần chiếm tỷ trọng lớn hơn trong cơ cấu xuất khẩu.
Việc tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA), mở rộng thị trường, đa dạng hóa đối tác cũng góp phần giúp nông sản Việt Nam đứng vững trước biến động toàn cầu. Trong khó khăn, giá trị được tạo ra không chỉ từ sản phẩm, mà còn từ cách tiếp cận thị trường và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.
Đối với nhóm ngành thủy sản - một trong những ngành chịu tác động mạnh của thiên tai, chi phí đầu vào và các rào cản kỹ thuật từ thị trường nhập khẩu. Tuy vậy, xuất khẩu thủy sản năm 2025 vẫn giữ được nhịp tăng trưởng, khẳng định vị thế của Việt Nam trên bản đồ thủy sản thế giới.
Tổng sản lượng thủy sản đạt 9,78 triệu tấn, tăng 3,5%, trong đó khai thác khoảng 3,8 triệu tấn, giảm 2,0% và nuôi trồng khoảng 5,98 triệu tấn, tăng 7,2%.
Tôm, cá tra và các sản phẩm hải sản khai thác vẫn là những mặt hàng chủ lực. Công tác quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát khai thác bền vững, đặc biệt là nỗ lực tháo gỡ các rào cản liên quan đến IUU, đã tạo nền tảng quan trọng để duy trì và mở rộng thị trường.
Bên cạnh đó, lâm sản và đồ gỗ tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những ngành xuất khẩu mũi nhọn. Trong bối cảnh thị trường toàn cầu ngày càng đề cao yếu tố bền vững, sản phẩm gỗ Việt Nam đang từng bước đáp ứng tốt hơn các yêu cầu về nguồn gốc hợp pháp, quản lý rừng bền vững và phát triển xanh.
Năm 2025, diện tích rừng trồng tập trung 260 nghìn ha, tăng 2,0% và 120 triệu cây phân tán; sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng 24 triệu m3, tăng 4,9%; tỷ lệ che phủ rừng đạt 42,03%. Thu dịch vụ môi trường rừng: 1.411,52 tỷ đồng, đạt 42,8% kế hoạch thu năm 2025 và bằng 109,9% so với cùng kỳ năm 2024.
Việc gắn xuất khẩu với bảo vệ và phát triển rừng không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, mà còn góp phần thực hiện các cam kết về môi trường, khí hậu. Đây chính là lợi thế dài hạn, giúp ngành gỗ Việt Nam đứng vững và nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế.
Minh Anh(t/h)

























