
Theo Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị, bối cảnh giai đoạn 5 năm (2021-2025) có nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn thách thức nhiều hơn.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta tiếp tục đạt được nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện với nhiều điểm sáng nổi bật. Trong giai đoạn 2021-2025, 22/26 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu đạt và vượt, trong đó toàn bộ các chỉ tiêu về xã hội, an sinh xã hội đều vượt kế hoạch; riêng năm 2024 và 2025 đạt và vượt toàn bộ 15/15 chỉ tiêu đề ra.
Nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện với nhiều điểm sáng nổi bật
Đại hội XIV của Đảng đã đánh giá toàn diện các kết quả đạt được theo 10 nhóm nội dung.
Một là, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định. Các cân đối lớn của nền kinh tế bảo đảm. Nền kinh tế tăng trưởng ở mức khá cao so với các nước trong khu vực và thế giới. Chất lượng tăng trưởng có chuyển biến tích cực. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân giai đoạn 2021 - 2025 khoảng 6,2%/năm, trong đó năm 2025 tăng 8,02%, thuộc nhóm các nền kinh tế có mức tăng trưởng cao nhất khu vực và thế giới.
Chất lượng tăng trưởng đã có sự cải thiện tích cực thông qua các chỉ số như tăng năng suất lao động, tăng năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), nâng hạng về chỉ số đổi mới sáng tạo quốc gia, tăng tỷ trọng kinh tế số.
Các tổ chức quốc tế uy tín đã đánh giá cao kết quả lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, nâng hạng tín nhiệm và triển vọng tăng trưởng của Việt Nam.
Hai là, công tác phòng, chống dịch Covid-19 được thực hiện quyết liệt, hiệu quả gắn với thực hiện các biện pháp phục hồi và phát triển kinh tế. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đã lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, quyết liệt, với nhiều giải pháp khống chế, đẩy lùi dịch bệnh; thực hiện "mục tiêu kép", vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh, vừa duy trì sản xuất, chống đứt gãy chuỗi cung ứng; và dần phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội.
Ba là, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đạt kết quả tích cực. Nền kinh tế bước đầu được cơ cấu lại theo hướng số hoá, xanh hoá, đa dạng hoá, tăng cường sức chống chịu, nâng cấp chuỗi giá trị dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Các lĩnh vực trọng tâm của nền kinh tế dược cơ cấu lại như đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước, phát triển kinh tế tư nhân, hệ thống các tổ chức tín dụng, công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp.
Bốn là, thực hiện 3 đột phá chiến lược đạt nhiều kết quả tích cực, toàn diện và thực chất hơn.
Hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tư duy và phương pháp xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật được đổi mới theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, kiến tạo phát triển. Phân cấp, phân quyền tiếp tục được đẩy mạnh gắn với tăng cường kiểm tra, thanh tra, kiểm toán đối với các lĩnh vực trọng yếu, dễ phát sinh tiêu cực.
Phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam tiếp tục được quan tâm và đẩy mạnh với nhiều cơ chế, chính sách đột phá. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đạt kết quả tích cực.
Phát triển kết cấu hạ tầng làm thay đổi diện mạo đất nước và mở ra không gian phát triển mới. Trong đó, hạ tầng giao thông, năng lượng, hạ tầng số, giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin, hạ tầng đô thị, nông thôn được chú trọng đầu tư.
Năm là, phát triển kinh tế - xã hội các vùng và liên vùng được chú trọng. Kinh tế biển được thúc đẩy, đạt nhiều kết quả tích cực. Đô thị hóa, phát triển đô thị và xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả nổi bật.
Sáu là, phát triển văn hóa, xã hội và con người đạt nhiều kết quả tiến bộ. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng cao. Theo đó, hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam được tập trung xây dựng. Chỉ số phát triển con người (HDI) tiếp tục được cải thiện, cao hơn nhiều so với các nước có cùng mức thu nhập. Thứ hạng về thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững tăng lên. Xếp hạng về chỉ số hạnh phúc của Việt Nam đã có sự thăng tiến, từ thứ 83 năm 2020 lên thứ 46 năm 2025.
Bảy là, công tác quản lý và sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai được quan tâm chỉ đạo, có chuyển biến tích cực.
Tám là, quốc phòng, an ninh quốc gia không ngừng được củng cố, tăng cường, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Tiềm lực quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố, tăng cường toàn diện. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Chín là, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục đi vào chiều sâu, hiệu quả, đạt nhiều thành tựu quan trọng, nổi bật, lâu dài.
Mười là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được triển khai quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm, bài bản, đạt nhiều kết quả rõ rệt.
7 nhóm hạn chế
Bên cạnh đánh giá các kết quả đạt được, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị đã báo cáo về 7 nhóm hạn chế sau 5 năm đầu triển khai Chiến lược.
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế chưa đạt mục tiêu đề ra. Ổn định kinh tế vĩ mô chưa thực sự vững chắc. Chất lượng tăng trưởng chậm được cải thiện. Cơ cấu kinh tế và mô hình tăng trưởng chưa có thay đổi đáng kể. Năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng chống chịu, sức cạnh tranh của các ngành kinh tế chưa cao.
Thứ hai, kết quả thực hiện ba đột phá chiến lược chưa như mong muốn. Thể chế phát triển vẫn là điểm nghẽn, chậm được hoàn thiện, còn bất cập, chưa thuận lợi cho huy động tối đa nguồn lực cho phát triển. Chất lượng nguồn nhân lực cải thiện chậm, thiếu nhân lực đáp ứng các ngành mũi nhọn, công nghệ cao và kinh tế số. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa trở thành động lực quan trọng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ, hiện đại, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.
Thứ ba, tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa đạt yêu cầu đề ra, chưa khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của các địa phương; phát triển các ngành kinh tế biển, sử dụng không gian biển chưa hiệu quả.
Thứ tư, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo chưa đồng bộ. Văn hóa chưa thực sự trở thành nguồn lực, sức mạnh nội sinh, động lực cho phát triển. Cơ chế, chính sách phát triển văn hóa, thể thao còn bất cập, thiếu đồng bộ; đầu tư cho văn hóa chưa cao, chưa tương xứng với yêu cầu.
Thứ năm, cơ chế, chính sách quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Tình trạng ô nhiễm các khu đô thị lớn, khu công nghiệp, lưu vực sông, làng nghề chưa được kiểm soát.
Thứ sáu, tham nhũng, tiêu cực trên một số lĩnh vực còn diễn biến phức tạp, nghiêm trọng.
Thứ bảy, sự kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh, thế trận quốc phòng, an ninh trên một số lĩnh vực, địa bàn chưa dược chú trọng đúng mức.
Sau 5 năm đầu thực hiện Chiến lược 2021 - 2030, Đảng đã nhìn nhận, đánh giá các nguyên nhân khách quan, chủ quan đối với cả thành tựu và hạn chế, yếu kém, trong đó xác định nguyên nhân chủ quan là chủ yếu; đồng thời rút ra 5 bài học kinh nghiệm để thực hiện tốt hơn trong giai đoạn tới.

Nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới cao hơn
Trình bày nội dung về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 – 2030, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị cho biết, thế giới đang có những thay đổi mang tính thời đại; tạo ra nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức lớn đan xen. Trong nước đang triển khai những quyết sách chiến lược mang tính đột phá, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới cao hơn; đồng thời cũng là bước ngoặt mới, vận hội mới mang tính lịch sử đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Đại hội XIV đề ra 5 nhóm quan điểm chỉ đạo trong xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới, trong đó có nhiều nội dung mới.
Cụ thể, lần đầu tiên có quan điểm mới "lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước" và nêu yêu cầu về tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển. Bảo vệ môi trường được coi là nhiệm vụ trung tâm cùng với nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội; đồng thời, công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế đã được nâng tầm trở thành trọng yếu, thường xuyên.
Cùng với đó, nhiều quan điểm mới đã được xác định, chỉ rõ: Phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển; Xác lập mô hình tăng trưởng mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực chính và phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất; phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; hoàn thiện thể chế phát triển gắn với thực hiện đồng bộ 4 chuyển đổi (chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu, chất lượng nguồn nhân lực và đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất mới).
Phát huy sức mạnh, trí tuệ, bản lĩnh của con người Việt Nam; kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa... gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường với củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế... bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc.
Xác định các quan điểm về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và năng lực quản lý, quản trị, kiến tạo phát triển của Nhà nước.
3 nhóm mục tiêu, chỉ tiêu phát triển
Mục tiêu chung được Nghị quyết Đại hội XIV đề ra rất toàn diện, hướng đến thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Trong đó có các thành tố trọng tâm là: Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; Phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; Cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân; Tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc.
Mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể được cấu trúc thành 3 nhóm: Kinh tế (14 mục tiêu, chỉ tiêu); Xã hội (6 mục tiêu, chỉ tiêu); Môi trường (5 mục tiêu, chỉ tiêu).
Các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đặt ra ở mức rất cao, khó khăn, thách thức, nhưng thể hiện khát vọng phát triển rất lớn và yêu cầu khách quan, là thước đo bằng bản lĩnh, ý chí, khát vọng của dân tộc, phải có quyết tâm đổi mới mạnh mẽ, tư duy vững chắc, biến khát vọng thành hành động. biến quyets tâm chính trị thành kết quả cụ thể.
Ví dụ như chỉ tiêu tăng trưởng GDP trong 40 năm đổi mới, Việt Nam chưa có giai đoạn nào đạt được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 8%/năm trở lên. Nhưng tại Đại hội XIV, Đảng ta đã xác định mục tiêu, yêu cầu phải đạt được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 8% trở lên. Điều này thể hiện quyết tâm chính trị rất cao để Việt Nam đạt được mục tiêu đến năm 2045 là nước phát triển, thu nhập cao.
Các nhiệm vụ trọng tâm và đột phá chiến lược
Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị cho biết, để thực hiện thành công các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển, Đại hội XIV đã đề ra các nhóm nhiệm vụ trọng tâm và đột phá chiến lược, đồng thời có Chương trình hành động cụ thể hóa các nhiệm vụ có thể triển khai thực hiện ngay.
Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, tập trung xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững, trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trung tâm và các thể chế khác phải đồng bộ.
Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập quốc tế. Phát triển các thành phần, khu vực kinh tế. Xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính.
Tập trung triển khai đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.
Phát triển con người, phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho phát triển nhanh, bền vững; xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống nhân dân.
Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; triển khai đồng bộ, hiệu quả, sáng tạo công tác đối ngoại; kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại.
Ba đột phá chiến lược tập trung vào những nội dung then chốt:
Đột phá thứ nhất là đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, thúc đẩy đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ kiến tạo phát triển. Kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân. Phát triển lực lượng sản xuất mới, các mô hình, phương thức sản xuất kinh doanh mới.
Đột phá thứ hai là tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ.
Đột phá thứ ba là tiếp tục hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức, hạ tầng công nghệ, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo chinhphu.vn
























