
Nuôi trồng thủy sản là ngành sản xuất trọng điểm tại Tứ Kỳ, đóng góp lớn vào kinh tế địa phương. Tuy nhiên, dữ liệu quản lý vùng nuôi (diện tích, môi trường, dịch bệnh,…) vẫn được thu thập theo phương thức truyền thống, trong tình trạng phân tán, không đồng bộ, khó cập nhật và khó theo dõi biến động thời gian. Do vậy, cần phải có một Hệ thống thông tin địa lý (GIS) để đổi mới phương thức quản lý, phù hợp với xu thế chuyển đổi số trong nông nghiệp.
Nghiên cứu tiến hành khảo sát 550 cơ sở sản xuất, kinh doanh nuôi trồng thủy sản, cửa hàng kinh doanh vật tư nuôi trồng thủy sản, trong đó các địa điểm khảo sát nuôi trồng thủy sản có diện tích trên 3.000m2 làm cơ sở cho việc thiết kế hệ thống thông tin địa lý nuôi trồng thủy sản. Hệ thống này bao gồm các giải pháp và mô hình tổng thể là cơ sở dữ liệu và phần mềm dạng WebGIS và Mobile GIS.
Nhóm nghiên cứu đã chuẩn hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu hệ thống với định dạng dữ liệu shp, hệ tọa độ VN-2000 Zone 48, ngôn ngữ tiếng Việt, bảng mã UTF-8, độ chính xác tỉ lệ bản đồ 1:50.000, các lớp dữ liệu bản đồ nền địa lý gồm: giao thông, thủy hệ, ranh giới hành chính, khu chức năng, trạm bơm, phủ bề mặt, nuôi trồng thủy sản và một số lớp dữ liệu khác. Lớp dữ liệu chuyên đề nuôi trồng thủy sản cho 550 đối tượng được chuẩn hóa, biên tập từ kết quả khảo sát.
Việc xây dựng phần mềm hệ thống thông tin địa lý nuôi trồng thủy sản phát triển trên nền tảng mở, đảm bảo các nhóm chức năng như: quản trị hệ thống, biểu diễn các lớp dữ liệu bản đồ, quản lý cơ sở dữ liệu nuôi trồng thủy sản,… WebGIS được chạy trên hệ điều hành Window Server 2025. Mobile GIS đã được đóng gói định dạng ứng dụng apk: thử nghiệm trên các điện thoại Android 10 trở lên, có bộ nhớ RAM tối thiểu 4GB và dung lượng lưu trữ từ 64GB trở lên. Hệ thống đã được triển khai và cài đặt trên máy chủ ảo với địa chỉ https://157.66.81.152/.
Kết quả nghiên cứu cũng đã xây dựng được 21 bản đồ chuyên đề về nuôi trồng thủy sản tại huyện Tứ Kỳ (cũ) và bộ tài liệu hướng dẫn sử dụng hệ thống. Đồng thời nhóm nghiên cứu cũng triển khai nhiều hoạt động tuyên truyền như: Xây dựng 2 video; 1 bài viết trên trang thông tin của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hải Dương (nay là Sở Khoa học và Công nghệ Hải Phòng); 1 bài báo khoa học đăng trên Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trường số 56 (tháng 6/2025) thuộc ngành Khoa học trái đất; tổ chức 1 buổi tập huấn.
Đề tài được Hội đồng thống nhất nghiệm thu trên cơ sở chỉnh sửa, bổ sung một số nội dung: làm rõ hiện trạng và công tác quản lý nuôi trồng thủy sản tại Tứ Kỳ làm cơ sở cho việc triển khai nghiên cứu; làm rõ phương pháp điều tra xử lý mẫu khảo sát, tính đại diện trong việc chọn hộ khảo sát; bổ sung điều kiện triển khai, duy trì và nhân rộng phần mềm hệ thống thông tin địa lý nuôi trồng thủy sản,…
Quỳnh Nga(t/h)

























