
Thực tế được chỉ ra tại Hội thảo cho thấy, bên cạnh việc loại bỏ chất hữu cơ, kiểm soát các chất như Nitơ, Phốt pho trong nước thải đô thị cũng rất quan trọng. Tuy nhiên, việc này chưa được quan tâm đúng mức khi chỉ có khoảng 20% nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt có hệ thống xử lý Nitơ, Phốt pho triệt để.
Ông Cao Lại Quang, Chủ tịch Hội Cấp thoát nước Việt Nam cho biết, nước và bùn thải đô thị chứa một lượng lớn chất dinh dưỡng ở dạng các hợp chất (vô cơ và hữu cơ) của Ni tơ và Phốt pho, có thể gây ra các hiện tượng phú dưỡng trong nguồn tiếp nhận sông, hồ và nước biển ven bờ. Tốc độ tăng trưởng kinh tế và đô thị hoá nhanh chóng ở Việt Nam hiện nay cũng là nguyên nhân dấn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nước ngày càng trầm trọng, đặc biệt ở các thành phố lớn.
PGS.TS. Trần Việt Nga (Đại học Xây dựng) nhận định: Sự phát triển nhanh chóng của các khu vực đô thị đang làm gia tăng nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt cũng như thương mại, kéo theo lượng nước thải ngày càng lớn. Trong khi đó, tính đến tháng 11/2016, Việt Nam mới có 35 hệ thống xử lý nước thải tập trung, tổng công suất 850.000m3/ngày đêm, chỉ đáp ứng xử lý từ 12 - 13% lượng nước thải phát sinh. Phần lớn trong khoảng 5.000 làng nghề trên toàn quốc chưa có trạm xử lý nước thải.
Mặt khác, với thực tế thiếu hụt nghiêm trọng hạ tầng kỹ thuật xử lý, nước và bùn thải, khu vực các đô thị hiện chứa quá nhiều chất dinh dưỡng ở dạng các hợp chất của Nitơ và phốt pho là nguyên nhân trực tiếp gây ra tình trạng phú dưỡng trên các sông ngòi, ven biển, đặc biệt là trong các hồ chứa tại đô thị. Trong khi đó, hiện chưa có những quy chuẩn, quy định riêng về xử lý Nitơ và Phốt pho trong nước thải…
Phát biểu tại hội thảo, ông Lê Thanh, Tổng giám đốc Công ty CP Đầu tư xây dựng và thương mại Phú Điền nhấn mạnh: Nhiều quốc gia phát triển như Hoa Kỳ đã sớm ban hành đạo luật kiểm soát xả thải Ni tơ, Phốt pho. Việt Nam nằm trong những quốc gia thiếu hụt nguồn nước, hệ thống sông hồ nhất là tại đô thị bị ô nhiễm nghiêm trọng. Việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, hoá chất trong nông nghiệp là khá phổ biến.
Từ thực tế xây dựng và vận hành nhiều hệ thống xử lý nước thải tại Việt Nam, TS Nguyễn Phương Quý, Tổng Giám đốc Công ty SFC khẳng định, khó khăn rất lớn khi nhiều tiêu chuẩn kỹ thuật đang trong tình trạng “nhảy nhót”, thiếu sự thống nhất giữa các văn bản từ cơ quan chức năng. Việc kiểm soát Ni tơ và Phốt pho trong nước thải càng khó khăn khi một số nhà máy thông số nước thải đầu vào được thiết kế khác nhiều so với thực tế vận hành.
Cũng tại hội thảo, các chuyên gia cũng cho rằng, để quản lý nước thải đạt các thông số chỉ tiêu bền vững, giảm thiểu tối đa thành phần Nitơ và Phốt pho trong nước thải, đã đến lúc ngành chức năng cần sớm có biện pháp ứng phó cụ thể với nguy cơ này, bởi nếu không môi trường nước, nhất là các hồ đô thị sẽ còn gặp nhiều rủi ro và ô nhiễm.
Nitơ và Phốt pho nếu không được kiểm soát sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến nước thải sau xử lý, tác hại tiêu cực đến môi trường sinh thái và sức khỏe cộng đồng. Mặc dù, Việt Nam đã có một hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn về nước thải, trong đó có những thông số liên quan đến hàm lượng Nitơ, Phốt pho nhưng đa số các nhà máy xử lý nước thải đô thị khi xây dựng chưa chú trọng đến điều này. Chỉ 7/35 nhà máy có thể xử lý các chất này triệt để.
Như Ngọc























