Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong tháng 4, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 6,05 tỷ USD, giảm nhẹ 0,8% so với cùng kỳ năm 2025.

Tính chung 4 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành vẫn đạt khoảng 23,04 tỷ USD, tăng 5,4% so với cùng kỳ. Trong cơ cấu xuất khẩu, nhóm nông sản đạt 12,16 tỷ USD, tăng 1,5%; thủy sản đạt 3,59 tỷ USD, tăng 11,9%; lâm sản đạt 5,82 tỷ USD, tăng nhẹ 0,8%. Đáng chú ý, sản phẩm chăn nuôi ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất với 245 triệu USD, tăng tới 45,5%.

Xét theo thị trường, châu Á tiếp tục là khu vực tiêu thụ lớn nhất, chiếm 44,1% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tiếp theo là châu Mỹ (20,9%) và châu Âu (15,8%), trong khi châu Phi và châu Đại Dương chiếm tỷ trọng nhỏ hơn.

So với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu sang châu Á tăng mạnh 11,5%, châu Âu tăng 3,7% và châu Đại Dương tăng gần 20%. Ngược lại, thị trường châu Mỹ giảm 3,5% và châu Phi giảm sâu tới 26%.

Trung Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu lớn nhất của nông, lâm, thủy sản Việt Nam với thị phần 21,1% (Ảnh minh họa)
Trung Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu lớn nhất của nông, lâm, thủy sản Việt Nam với thị phần 21,1% (Ảnh minh họa)

Trong số các đối tác, Trung Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu lớn nhất của nông, lâm, thủy sản Việt Nam với thị phần 21,1%, theo sau là Hoa Kỳ (18,5%) và Nhật Bản (7%). Đáng chú ý, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh 28,8%, trong khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ giảm 4,8% và sang Nhật Bản chỉ tăng nhẹ 1,3%.

Ở cấp độ mặt hàng, bức tranh xuất khẩu cho thấy sự phân hóa rõ rệt. Nhóm tăng trưởng tích cực gồm hạt tiêu và rau quả. Cụ thể, xuất khẩu hạt tiêu đạt 95,1 nghìn tấn, trị giá 614,4 triệu USD, tăng lần lượt 29,2% về khối lượng và 20,9% về giá trị. Rau quả cũng ghi nhận mức tăng ấn tượng với kim ngạch 2,06 tỷ USD, tăng 22,3%.

Ngược lại, nhiều mặt hàng chủ lực lại sụt giảm về giá trị do ảnh hưởng của giá thế giới. Cà phê dù tăng 15% về sản lượng, đạt 789,3 nghìn tấn, nhưng kim ngạch chỉ đạt 3,6 tỷ USD, giảm 7,8% do giá xuất khẩu bình quân giảm gần 20%. Tình trạng tương tự cũng diễn ra với cao su, hạt điều và gạo khi giá trị xuất khẩu đều giảm dù sản lượng có xu hướng tăng hoặc đi ngang.

Xét theo từng thị trường, Trung Quốc tiếp tục là điểm sáng khi tăng mạnh nhập khẩu nhiều mặt hàng như cà phê (tăng 80,8%), gạo (tăng 44,4%) và rau quả (tăng 49,6%). Một số thị trường khác cũng ghi nhận mức tăng đáng kể như Hoa Kỳ đối với hạt tiêu hay Thái Lan với hạt điều.

Trung Quốc tiếp tục là điểm sáng khi nhập khẩu tăng mạnh ở nhiều mặt hàng như cà phê, gạo và rau quả (Ảnh minh họa)
Trung Quốc tiếp tục là điểm sáng khi nhập khẩu tăng mạnh ở nhiều mặt hàng như cà phê, gạo và rau quả (Ảnh minh họa)

Tuy nhiên, không ít thị trường lại ghi nhận xu hướng giảm sâu. Philippines giảm mạnh nhập khẩu cà phê (giảm 28,4%) và chè (giảm tới 75,2%), Brazil giảm nhập khẩu cao su (giảm 42,1%), Bờ Biển Ngà giảm nhập khẩu gạo (giảm 59,6%) và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất giảm nhập khẩu hạt điều (giảm 52,3%) và hạt tiêu (giảm 32,5%).

Theo đánh giá, biến động giá nông sản trên thị trường thế giới tiếp tục là yếu tố chính chi phối giá trị xuất khẩu trong thời gian qua, khiến nhiều mặt hàng dù tăng sản lượng nhưng vẫn giảm kim ngạch.

Cũng theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổng kim ngạch nhập khẩu nông, lâm, thủy sản 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 17,65 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước.

Trong số đó, giá trị nhập khẩu các mặt hàng nông sản đạt 11,51 tỷ USD, tăng 16,2%; giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 1,75 tỷ USD, tăng 25,3%; giá trị nhập khẩu thủy sản đạt 1,05 tỷ USD, tăng 2,7%; giá trị nhập khẩu lâm sản đạt 1,15 tỷ USD, tăng 24,1%...

PV (t/h)