THCL Trước nhiều thách thức về sự phát triển của ngành công nghiệp ôtô trong thời kỳ hội nhập. Vừa qua Bộ Công thương đã tổ chức buổi tọa đàm đối thoại chính sách phát triển ngành CN ôtô Việt Nam. Với sự chủ trì của ông Trần Tuấn Anh, Thứ trưởng Bộ Công thương, cùng đại diện các Bộ, ngành, các DN sản xuất lắp ráp ôtô trong nước.

Thực trạng

Tại buổi tọa đàm, ông Trần Tuấn Anh, Thứ trưởng Bộ Công thương đã thẳng thắn nêu rõ: “Ngành CN ôtô VN ra đời muộn so với các nước trong khu vực; CN hỗ trợ, hạ tầng giao thông chưa phát triển đồng bộ, mức sống chưa cao nên thị trường còn nhỏ…Vì vậy các DN sản xuất lắp ráp cần có cách tiếp cận thị trường để có chiến lược, định hướng cho DN của mình ”.

Với năng lực sản xuất, lắp ráp khoảng 460 nghìn xe/năm (xe con: 200 nghìn xe/năm; xe tải và xe khách 215 nghìn xe/năm).

Phần lớn các DN sản xuất lắp ráp nội địa mới dừng ở việc lắp ráp đơn giản, tỷ lệ nội địa hóa còn thấp. Trong đó xe con Thaco Trường Hải đạt 15% - 18%; Toyota Việt Nam đạt 37% (riêng cho dòng Inova); Xe tải nhẹ: Thaco đạt 33%; Vinaxuki đạt 50%.

Ông Bùi Ngọc Huyên, Chủ tịch HĐQT công ty CP ôtô Xuân Kiên (Vinaxuki) cho rằng: “ Việc sản xuất lắp ráp ôtô là rất dễ, lãi xuất cao, người Việt hoàn toàn có thể cho ra đời một chiếc xe Made in Việt Nam với 90% nội địa hóa. Vấn đề là chính sách cần minh bạch, rõ ràng, tránh để mất lòng tin cho các DN. Đặc biệt là việc hỗ trợ vay vốn cho DN cần được thực thi minh bạch để DN tin tưởng hoạt động sản xuất”.

Đánh giá về tình hình ngành công nghiệp ôtô Việt Nam, ông Đào Văn Long, Phó chủ tịch, tổng thư ký Hiệp hội doanh nghiệp cơ khí VN cho rằng: ‘Với thị trường hơn 90 triệu dân, tiềm năng phát triển của ngành CN ôtô là rất lớn. Chắc chắn sẽ không có một DN nào muốn rời thị trường này, và cũng không có nước nào muốn Việt Nam có ôtô. Vấn đề là các DN phải bảo nhau để làm ăn, đoàn kết, có những thống nhất, quan điểm nhất quán. Các chính sách của Nhà nước cần minh bạch, rõ ràng, tập trung cho các DN đã có thị trường, làm ôtô hiệu quả”.

Giải pháp.

Bộ Công thương cũng đã đưa ra một số giải pháp về các chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp sản xuất lắp ráp ôtô trong nước như:

Chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu: Dự án sản xuất linh kiện ôtô được vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước với lãi suất theo từng thời kỳ; khuyến khích DN trong nước tham gia các chuỗi cung ứng toàn cầu trong sản xuất, xuất khẩu linh kiện, phụ tùng và xe nguyên chiếc.

Chính sách kích cầu, hỗ trợ phát triển thị trường: DN sản xuất 03 dòng xe ưu tiên được hỗ trợ chi phí quảng cáo, xúc tiến thương mại theo chương trình xúc tiến thương mại quốc gia; tổ chức, cá nhân mua xe tải nhẹ sức chở đến 03 tấn, xe nông dụng nhỏ đa chức năng được hưởng hỗ trợ theo QĐ số 68/2013 ngày 14/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ.

Chính sách đầu tư cho nghiên cứu và phát triển: Các dự án đầu tư sản xuất 03 dòng xe ưu tiên được xem xét hỗ trợ từ nguồn vốn Quỹ hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ quốc gia. Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia và các nguồn vốn khác đối với các chi phí chuyển giao côn nghệ, mua bản quyền thiết kế, mua phần mềm, thuê chuyên gia nước ngoài, đào tạo nguồn nhân lực.

Chính sách thuế: Khuyến khích các dự án đầu tư sản xuất 3 dòng xe ưu tiên phát triển có công suất tối thiểu 100.000 xe/năm.

Thuế Tiêu thụ đặc biệt: Để tạo điều kiện mở rộng thị trường ôtô trong nước, đối với dòng xe ưu tiên 09 chỗ ngồi chở xuống và xe khách từ 10 đến 24 chỗ ngồi sẽ áp dụng mức thuế TTĐB thấp hơn so với quy định hiện hành. Cụ thể: Xe 09 chỗ dung tích nhỏ (dưới 1,5 lít), xe thân thiện môi trường, xe sử dụng điện và năng lượng sinh học, xe khách từ 10 đến 24 chỗ. Đối với xe dung tích trên 3,0 lít áp dụng mức thuế suất TTĐB cao hơn mức quy định hiện hành.

Thuế thu nhập DN: Doanh nghiệp sản xuất lắp ráp các dòng xe thân thiện môi trường, xe tải nhẹ sức chở đến 03 tấn và xe nông dụng nhỏ đa chức năng được hưởng các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp theo luật đầu tư 67/2004/QH13.

Hỗ trợ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong và ngoài hàng rào dự án; hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; hỗ trợ tín dụng; hỗ trợ tiếp cận mặt bằng sản xuất, kinh doanh, di rời cơ sở sản xuất ra khỏi nội thành, nội thị; hỗ trợ khoa học kỹ thuật chuyển giao công nghệ; hỗ trợ phát triển thị trường, cung cấp thông tin; hỗ trợ nghiên cứu và phát triển.

Bên cạnh đó là Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ; tăng cường kiểm soát kê khai giá tính thuế đối với xe nhập khẩu nguyên chiếc và linh kiện nhập khẩu; tăng cường công tác quản lý thị trường, quản lý hoạt động xuất nhập khẩu động cơ, xe ôtô, chống buôn lậu, gian lận thương mại…

Ông Nguyễn Văn Dũng, Giám đốc công ty TNHH Á Châu đề nghị: “Chính phủ, Bộ Công thương cùng các Bộ, ngành xem xét việc quản lý nhập khẩu phụ tùng sửa chữa phải đúng nguồn gốc, xuất xứ, bảo đảm chính hãng, chống hàng nhái, hàng giả, ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng, gây thất thoát thuế của Nhà nước…”.

Chiến lược phát triển ngành CN ô tô Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tháng 7/2014 đến năm 2025, tầm nhìn 2035.

Ưu tiên sản xuất xe tải và xe khách: Xe tải nhẹ đa dụng phục vụ cho nông nghiệp, nông thôn, xe khách tầm trung và tầm ngắn; Xe đến 9 chỗ ngồi: Xe cá nhân, kích thước nhỏ, tiêu thụ ít năng lượng, giá rẻ, khuyến khích đầu tư các dự án đủ lớn với các đối tác chiến lược; Xe chuyên dùng: xe chở bê tông, xe téc và xe đặc chủng an ninh, quốc phòng, xe nông dụng đa chức năng; Phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Nguyễn Kiên