Theo đánh giá của các chuyên gia địa chất – khoáng sản, Yên Bái là tỉnh “ sở hữu” nhiều mỏ đá hoa trắng lớn và chất lượng cao. Thế nhưng, việc quản lý giám sát sản lượng khai thác của các doanh nghiệp ( DN) ở đây lại chưa được quan tâm, trong khi thiệt hại về môi trường người dân phải gánh chịu.

“ Èo uột” nguồn thu
Ông Hoàng Thanh Trọng, Phó Chủ tịch UBND huyện Lục Yên, nơi được xem là thủ phủ đá trắng của tỉnh Yên Bái, cho biết địa phương có 30 DN được cấp phép khai thác khoáng sản chủ yếu trong lĩnh vực vật liệu xây dựng. Trong đó có hai DN khai thác đá hoa trắng là Công ty TNHH Đá cẩm thạch R.K Việt Nam ( gọi tắt là Công ty R.K), DN có 100% vốn đầu tư của Ấn Độ, và công ty CP Khoáng sản Yên Bái do UBND tỉnh trực tiếp thu các khoản phí và thuế. 28 DN còn lại do UBND huyện thu và trung bình mỗi năm đóng góp khoảng 30% tương đương khoảng 20 tỷ đồng cho ngân sách địa phương.
Thế nhưng, bên cạnh các khoản đóng góp ít ỏi cho ngân sách, hoạt động khai thác khoáng sản của các DN trên địa bàn tỉnh Yên Bái trong những năm gần đây đã khiến cơ sở hạ tầng giao thông của địa phương xuống cấp nghiêm trọng và môi trường bị ảnh hưởng nặng nề.
Phó trưởng phòng Tổng hợ nghiệp vụ - dự toán ( Cục Thuế tỉnh Yên Bái) Nguyễn Công Ký cho rằng, việc đầu tư phát triển công nghiệp khai thác, chế biến đá hoa trắng là hướng đi đúng đắn để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tuy nhiên, trên thực tế, thu ngân sách từ khai thác khoáng sản lại không tương xứng với thiệt hại về môi trường, xã hội cũng như giá trị của nguồn tài nguyên. Nhiều năm qua, một số nguồn thu từ khai khoáng chủ yếu dựa trên quá trình đàm phán hợp đồng khai thác, đấu giá,cấp phép hoặc được tính toán dựa trên sản lượng do DN khai báo, nhiều khi thiếu đi sự minh bạch. Thậm chí, nếu các cơ quan quản lý không kiểm soát tốt các thông tin liên quan thì Nhà nước có thể sẽ thất thoát nguồn thu từ tài nguyên. Cụ thể, năm 2013, toàn tỉnh Yên Bái thu thuế của 84 DN khai khoáng được 63,5 tỷ đồng và phí bảo vệ môi trường là 35,2 tỷ đồng. Sang năm 2014 nguồn thu từ thuế dự kiến khoảng 77,6 tỷ đồng, phí bảo vệ môi trường khoảng 31 tỷ đồng. Như vậy, tổng thu ngân sách của các DN khai thác khoáng sản chiếm khoảng 15% tổng nguồn thu ngân sách cho tỉnh. Thế nhưng, lâu nay các khoản thuế và phí là dựa trên sản lượng thương phẩm, điều này đã không khuyến khích các DN tận thu tài nguyên. Nói cách khác là, DN dành lấy “ phần nạc”, còn “ phần xương” đổ ra môi trường.
Thêm vào đó, biểu phí thuế xuất đá hoa trắng hiện nay Bộ Tài chính vẫn chỉ áp ở mức từ 7-9%, ngang bằng đá xây dựng thông thường. Trong khi 1 m3 đá hoa trắng các DN bán với giá từ 12-16 triệu đồng, nhưng chỉ phải nộp phí bảo vệ môi trường 90.000 đồng. Thậm chí, nếu tính cả các loại thuế khác thì DN chỉ nộp khoảng một triệu đồng/n3”, ông Nguyễn Công Ký phân tích.
“ Sai sót” từ khâu đánh giá trữ lượng?
Phó Tổng Giám đốc Công ty R.K Đỗ Thị Hồng cho biết, là DN có quy mô khai thác đá hoa trắng lớn nhất Việt Nam với ba loại sản phẩm chính là đá khối, đá xẻ tấm lớn và đá cắt theo quy cách, hiện nay, 90% sản phẩm đá khối của DN đang được xuất khẩu tới 60% quốc gia trên thế giới. Mặc dù DN đang sử hữu mỏ đá lớn, được đánh giá là chất lượng nhất nhì của cả nước, thế nhưng sản lượng khai thác trên thực tế lại thấp, bởi những thông tin trong quá trình đánh giá thăm dò không chính xác. Khai thác cả 100m3 thì chỉ sử dụng được … 3m3.
Trái ngược với giãi bày của DN, ghi nhận của phóng viên tại moong khai thác số 6 ( Công ty R.K), cho thấy những khối đá hoa trắng ước chừng 5m3 trở lên được khai thác, xếp dài, nằm la liệt ngay tại khai trường. Chung quanh, những quả núi đang được công nhận “ cạo trọc” lớp bì xanh cây rừng để khoan đục, cưa xẻ lấy đá. Cùng có mặt tại đây, Chánh Văn phòng Tổng hội Địa chất Việt Nam Nguyễn Đồng Hưng cho rằng, với chất lượng và trữ lượng như hiện nay, nếu Công ty R.K khai thác theo kích thước từ 5-10m3/ khối đá thì độ thu hồi mới đạt từ 3-5% trong khi DN phải tận thu những phiến đá có kích thước 0,4m3 trở lên. Còn nếu tận thu sản xuất bột nghiền từ đá viên chắc chắn độ thu hồi sẽ đạt 30-35%.
Nằm cách khai trường của Công ty R.K khoảng 200m là mỏ đá Đào Lâm của Công ty CP khoáng sản Yên Bái, DN sử dụng 100% vốn trong nước, tiềm lực tài chính còn hạn chế, quy mô khai thác cũng như trữ lượng được cấp phép chỉ có 411.459 m3 với sản phẩm là đá xẻ và đá bột. Thế nhưng, DN này vẫn thể hiện được “ bản lĩnh”. Theo Phó Tổng Giám đốc công ty Hoàng Văn Nghĩa, do không được phép xuất khẩu đá khối trực tiếp nen những tấm đá khối thường được DN xẻ ra để tiêu thụ. Còn viên đá nhỏ, DN nghiền thành bột để bán với giá 250.000-300.000 đồng/ tấn. Xét tổng thể thì chi phí sản xuất đá tầm, đá phiến cao hơn nhiều so với xuất khẩu đá khối, bởi việc cắt xé này bắt buộc phải đầu tư thêm thiết bị, máy móc. Thêm vào đó, giá thành của đá xẻ cũng thấp. Tuy nhiên, chỉ tiêu thu hồi cũng đạt khoảng … 70% Về trữ lượng khai thác, thông thường trữ lượng đá khai thác thực tế thường thấp hơn so số liệu đánh giá ban đầu khi cấp phép. Mặc dù vậy, từ lúc khai thác đến nay DN cũng thu được 70% sản phẩm so sản lượng mỏ, còn 30% là đất đá thải loại ( không thu được tiền, phải bỏ đi).
Theo Thời nay

















