
Di sản trở thành nguồn lực phát triển mà không đánh mất bản sắc
Hội thảo nhằm nhận diện, làm rõ những giá trị đặc trưng của hệ thống di sản văn hóa dân gian các dân tộc miền núi phía Tây TP. Đà Nẵng; đánh giá thực trạng bảo tồn, phục dựng, truyền dạy và phát huy di sản trong bối cảnh đô thị hóa, chuyển đổi số, hội nhập và phát triển kinh tế. Đồng thời, Hội thảo tạo diễn đàn để các nhà nghiên cứu, nhà quản lý văn hóa, nghệ nhân và đại diện cộng đồng trao đổi kinh nghiệm, đề xuất những giải pháp, cơ chế, chính sách phù hợp, góp phần bảo tồn di sản gắn với phát triển bền vững.
Theo Ban Tổ chức, sau thời gian phát động, Hội thảo đã tiếp nhận hơn 30 tham luận, nghiên cứu tập trung vào nhiều phương diện của di sản văn hóa dân gian miền núi phía Tây. Các nghiên cứu cho thấy đây là không gian văn hóa giàu bản sắc, lưu giữ hệ thống di sản đa dạng như tiếng nói, truyện kể, tín ngưỡng, lễ hội, dân ca, cồng chiêng, kiến trúc Gươl, nghề dệt thổ cẩm, đan lát, điêu khắc gỗ, chế tác nhạc cụ, ẩm thực và tri thức bản địa về rừng, đất, nước, cây thuốc, mùa vụ…
Nội dung Hội thảo tập trung vào bốn nhóm vấn đề chính: Nhận diện và làm rõ giá trị đặc trưng của di sản; đánh giá thực trạng biến đổi của không gian văn hóa, môi trường thực hành và quá trình trao truyền; đề xuất giải pháp bảo vệ nghệ nhân, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng và truyền dạy cho thế hệ trẻ; đồng thời tìm kiếm những mô hình phát huy di sản gắn với giáo dục, du lịch cộng đồng, sinh kế, công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số theo hướng bền vững.
Thông qua Hội thảo, Ban Tổ chức kỳ vọng góp phần bổ sung cơ sở lý luận, thực tiễn cho việc xây dựng chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân gian miền núi phía Tây; đồng thời mở ra những hướng tiếp cận mới, để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh của cộng đồng, hài hòa giữa bảo tồn, phát triển và quyền chủ thể văn hóa.

Báo cáo đề dẫn tại Hội thảo, Nhà nghiên cứu Đinh Thị Trang, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP. Đà Nẵng, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian TP. Đà Nẵng cho biết: “Hội thảo hôm nay cần đặt trọng tâm việc nhận diện các di sản văn hóa miền Tây TP. Đà Nẵng, để cùng trao đổi về những vấn đề đang đặt ra như: Di sản đang biến đổi như thế nào, làm sao để di sản trở thành nguồn lực phát triển mà không đánh mất bản sắc và quyền chủ thể của cộng đồng?
Từ đó, Ban Tổ chức mong muốn các tham luận, ý kiến tập trung vào bốn vấn đề trọng tâm: Một là, nhận diện và làm rõ những giá trị đặc trưng của di sản văn hóa dân gian các dân tộc miền núi phía Tây của thành phố Đà Nẵng; Hai là, đánh giá thực trạng biến đổi của không gian văn hóa, môi trường thực hành và quá trình trao truyền; Ba là, đề xuất giải pháp bảo vệ nghệ nhân, phát huy vai trò chủ thể cộng đồng và truyền dạy cho thế hệ trẻ; Bốn là, tìm kiếm những mô hình phát huy di sản gắn với giáo dục, du lịch cộng đồng, sinh kế, kinh tế sáng tạo và chuyển đổi số theo hướng bền vững. Đặc biệt, trong bối cảnh TP. Đà Nẵng đang hình thành một không gian phát triển mới, chúng ta cần hướng tới một tư duy quản trị văn hóa mới: không tách văn hóa khỏi sinh thái, không tách di sản khỏi cộng đồng và không tách bảo tồn khỏi phát triển”.
Di sản miền núi phía Tây Đà Nẵng cần bảo tồn và phát huy giá trị, bản sắc
Phát biểu tại Hội thảo, Nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP. Đà Nẵng cho biết: “Đà Nẵng không còn chỉ được nhìn nhận từ biển, sông Hàn và không gian đô thị. Với sự mở rộng không gian thành phố, miền núi phía Tây trở thành một bộ phận quan trọng trong cấu trúc địa lý, sinh thái và văn hóa của thành phố. Đây là không gian cư trú lâu đời của nhiều cộng đồng dân tộc như Cơ Tu, Xơ Đăng, Gié-Triêng, Cor, Ca Dong..., với một kho tàng văn hóa dân gian phong phú. Các tư liệu của Hội thảo thống kê khu vực miền núi hiện có 37 xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, 420 thôn, khoảng 164.095 người dân tộc thiểu số.

Nhưng điều quan trọng hơn những con số là một nhận thức đang dần hình thành qua các tham luận: Miền núi phía Tây không phải là vùng ngoại vi của thành phố. Đó là một bộ phận cấu thành bản sắc Đà Nẵng mới.
Nếu biển tạo nên một diện mạo Đà Nẵng hướng ra bên ngoài, thì đại ngàn Trường Sơn tạo nên một chiều sâu văn hóa hướng vào bên trong. Một Đà Nẵng đầy đủ hơn phải là Đà Nẵng của biển và núi, đô thị và làng bản, hiện đại và truyền thống, đa văn hóa và thống nhất trong đa dạng.
Đây là một phát hiện có ý nghĩa không chỉ đối với nghiên cứu văn hóa mà còn đối với tư duy quy hoạch và phát triển thành phố”.
Theo Nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm, các tham luận, với những cách tiếp cận khác nhau, nhưng đang gặp nhau ở một điểm rất quan trọng: Bảo tồn không phải là đóng băng quá khứ.
Văn hóa không thể sống nếu chỉ nằm trong hồ sơ, sách vở, bảo tàng hay những chương trình biểu diễn.
Di sản chỉ thực sự được bảo tồn khi người trẻ còn muốn học; nghệ nhân còn có người để truyền; cộng đồng còn không gian để thực hành; làng bản còn giữ được ký ức; rừng còn cung cấp nền tảng sinh thái; và những giá trị ấy có thể bước vào đời sống hiện đại bằng một hình thức phù hợp.
Từ đó, chúng ta cần chuyển từ tư duy “bảo tồn cái đã có” sang tư duy “tạo điều kiện để di sản tiếp tục sinh thành trong đời sống mới”. Đó cũng là lý do tại sao chủ đề của Hội thảo không chỉ là “bảo tồn”, mà là “bảo tồn và phát huy”. Và quan trọng nhất: Làm thế nào để phát triển mà không làm mất đi chính những giá trị làm nên bản sắc của cộng đồng?

Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP. Đà Nẵng tin rằng, với trên 30 tham luận được chuẩn bị công phu, cùng những ý kiến trao đổi trực tiếp của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, nghệ nhân, già làng, người có uy tín và đại diện cộng đồng hôm nay, Hội thảo sẽ góp phần tạo nên một nhận thức mới về di sản miền núi phía Tây Đà Nẵng.

Đó là nhận thức về một không gian văn hóa sống, chứ không phải một “kho di sản”; về cộng đồng là chủ thể, chứ không phải đối tượng của bảo tồn; về văn hóa là nguồn lực nội sinh, chứ không chỉ là đối tượng cần hỗ trợ; và về phát triển bền vững phải bắt đầu từ việc tôn trọng con người, văn hóa và môi trường nơi đó.
Để rồi, trong diện mạo mới của Đà Nẵng, tiếng cồng chiêng giữa đại ngàn, những câu nói lý - hát lý, những điệu múa, hoa văn thổ cẩm, mái Gươl, những câu chuyện kể bên bếp lửa, những tri thức về rừng và những lễ hội của cộng đồng các dân tộc miền núi không chỉ thuộc về ký ức, mà tiếp tục hiện diện trong đời sống hôm nay và được trao lại cho ngày mai.
Anh Dũng






















