
Những ngày tháng 3 rực rỡ tại thành phố biển Đà Nẵng. Tuy nhiên, những ngày này của 51 năm trước là những ngày tháng hào hùng với một cuộc tấn công thần tốc để đến ngày 29/3/1975, thành phố Đà Nẵng được hoàn toàn giải phóng. Kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng Đà Nẵng (29/3/1975 - 29/3/2026).
Trước ngày giải phóng thành phố Đà Nẵng
Tôi còn nhớ rất rõ vào những ngày trước khi thành phố Đà Nẵng được giải phóng (29/3), hơn 10 ngày trước, tại thành phố Đà Nẵng lúc bấy giờ, người từ Mỹ Chánh (gần Quảng Trị), Thừa Thiên Huế... di tản về Đà Nẵng đến mức quá tải, từ đường phố, đến các chợ nội thành, xe cộ tấp nập. Đặc biệt, tại nhà công cộng, các trường học,… đều cho học sinh nghỉ, nhường chỗ để người di tản trú ngụ, đi đâu cũng thấy từng nhóm người tụ lại bàn chuyện đi tiếp vào Sài Gòn, vì khả năng thành phố Huế sẽ mất kiểm soát của quân đội Sài Gòn, quân Giải phóng sẽ tiến về thành phố Huế, rồi đến Đà Nẵng…

Trước ngày 27- 28/3, ban ngày thì cảnh xô bồ, đi đâu cũng nghe thấy người di tản đến, trên đường Hùng Vương, Thống Nhất (Lê Duẩn bây giờ) phố chính của Đà Nẵng xe quân cảnh, xe cảnh sát công lộ và lực lượng cảnh sát dã chiến thường xuyên chạy trên đường và phát loa kêu gọi mọi người trật tự…
Lễ chào mừng giải phóng Đà Nẵng
Tôi còn nhớ mãi trong ký ức của mình, trước ngày giải phóng thành phố Huế (26/3), trên Đài phát thanh Đà Nẵng lúc đó, các chương trình phát thanh, chừng 15 phút là có lời kêu gọi của Trung tướng Ngô Quang Trưởng - Tư lệnh Quân đoàn I và Quân khu 1, ông Trưởng được lệnh phải giữ bằng được Huế. Trong tình hình này, ông Trưởng tuyên bố một cách quyết liệt: “...phải bước qua xác tôi mới vào được cố đô Huế”. Còn Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thời bấy giờ thì tuyên bố trên đài phát thanh Sài Gòn: “Bỏ Kon Tum, Pleiku để bảo toàn lực lượng, còn Đà Nẵng, Huế, Quân khu 3 sẽ phải giữ đến cùng”.
Đà Nẵng mất an ninh về đêm
Đà Nẵng lúc bấy giờ rất hoảng loạn và người dân rất hoang mang, trên đường phố Đà Nẵng rất nhiều nhóm tàn quân như: Thủy quân lục chiến, lính dù, biệt động quân và vô số lính bộ binh tháo chạy trước ngày thành phố Huế dưới sự kiểm soát của quân giải phóng.
Về đêm, nhất là trong 2 đêm từ 27- 28/3, số tàn quân này chia thành nhiều nhóm để cướp phá tài sản người dân, từ 6 giờ tối là chúng đi đến từng nhà, yêu cầu đưa tiền, trên người ai đeo vàng chúng đều lấy sạch, còn những nhà ngay phố chính họ đều đóng kín cửa sắt, chúng gõ cửa yêu cầu mở, nhưng người dân tuyệt đối không mở, rồi chúng xả súng bắn ngay vào khóa để mở cửa. Tại nhà tôi, 28/3, mới 6 giờ tối, một nhóm 4 người, mặc đồ lính thủy quân lục chiến, trên vai mang huy hiệu tiểu đoàn Trâu Điên tiến vào nhà tôi, lúc đó trong nhà đang ăn cơm tối, một tay to mập, rất đen, trên hai tay đều xăm hình, lúc đó nó tiến tới cha tôi đưa tay lấy chiếc đồng hồ hiệu Rolex đang đeo trên tay, rồi vội vàng quay ra sợ quân cảnh đi tuần bắt gặp.
Đêm 28/3, gần như lực lượng quân cảnh, cảnh sát… chỉ đi tuần với tư cách trấn an người dân, không hùng hậu như cách đó 10 ngày…
Tại kho gạo dự trữ lớn trên ngã ba Cai Lang (bây giờ là đường Điện Biên Phủ, nay là công viên 29/3), người dân di tản, người dân địa phương lẫn lính tráng rời bỏ đơn vị vào phá cửa lấy gạo ra bán, một số lấy về để dùng trong gia đình, ngoài sân nhà kho gạo, tôi thấy vài xác người bị quân cảnh, cảnh sát bắn chết nằm gần những bao gạo.
Tôi còn nhớ rất rõ, lúc đó chừng 8 giờ 30 sáng, người dân thành phố Đà Nẵng xôn xao, nơi nào cũng có người tụ tập thành từng nhóm bàn tán, nghe nói quân giải phóng đang tiến vào Đà Nẵng, trên những con phố chính lúc này, số tàn quân bắt đầu lo sợ và biết quân Giải phóng chuẩn bị tiến vào, đi đâu cũng thấy áo quần quân đội, giày, mũ sắt, súng, đạn…của quân đội Sài Gòn vứt đầy trên vỉa hè, lòng đường, số tàn quân tìm vào nhà dân xin áo quần để đổi thay sắc phục.

Đúng 9 giờ, từ xa đã nghe tiếng loa phóng thanh, đi đầu là đoàn xe Jeep của Giáo hội phật giáo Đà Nẵng và nhiều đoàn xe kế tiếp chở quân Giải phóng rầm rộ một đoàn dài, tiếng loa phóng thanh yêu cầu những quân nhân, quân lực Việt Nam Cộng hòa bỏ súng và trình diện ngay với chính quyền địa phương để được khoan hồng, hai bên lề đường từ ngã ba Cai Lang (Lý Thái Tổ và Điện Biên Phủ bây giờ) chạy dài xuống Hùng Vương, Ông Ích Khiêm, người dân chen chân, đứng nhìn và chào đón quân Giải phóng vẫy tay, trong niềm hân hoan đồng ca Việt Nam Hồ Chí Minh!
Đến trưa cùng ngày, nhà nhà đều treo cờ giải phóng, nơi nào cũng bán cờ giải phóng và hình ảnh Bác Hồ kính yêu… Một thời gian lâu, sau đó mới thấy treo cờ đỏ sao vàng và không treo cờ giải phóng nữa.
Khi giải phóng thành phố Đà Nẵng xong, về sau tôi càng hiểu rõ bản chất của chính quyền Mỹ - Ngụy từng tồn tại ở đây. Cùng một thành phố nhưng bờ Tây sông Hàn là trung tâm kinh tế, nhà cửa khang trang, đời sống thượng lưu của giới quý tộc thuộc chính quyền Mỹ - Ngụy; còn phía bên kia sông Hàn là những dãy nhà “chồ”, khu nhà tạm xập xệ, trên mặt nước của dân lao động, người nghèo khổ. Khung cảnh đối nghịch của hai bên bờ sông Hàn thêm thôi thúc tinh thần người chiến sỹ Giải phóng quân…
Lúc đó muốn qua quận 3 (bây giờ là phường Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn) phải đi bằng phà, phải chờ đợi, rất mất thời gian.
Trong tâm thức tôi, thời đang là sinh viên Đại học Huế, cứ mỗi lần về Đà Nẵng với gia đình, bạn bè hay rủ nhau qua tận bên quận 3 chơi (bên đó cũng có một số bạn học cùng lớp). Mỗi lần đi qua đó, tôi cứ suy nghĩ như được về quê ngoại hoặc quê nội vậy, lòng vui như hội, thích nhất là được đi trên chiếc phà ngang cũ kỹ, đông người chen chúc, rộn ràng và không quên sợ… phà chìm…
Phà qua sông Hàn, kỷ niệm một thời của người dân thành phố, lúc bấy giờ nó nhỏ nhoi nhưng phải gánh gồng dòng người qua lại đông đúc. Mùa mưa bão, dòng sông đục ngầu mênh mang cuộn chảy, chiếc phà lênh đênh mà lòng người thấp thỏm nỗi lo… Vì lượng người quá đông, không còn chỗ để xoay trở. Mỗi lần sáng đi, chiều tối mới về, vì “ngăn sông cách đò”. Đã mấy chục năm trôi nhanh, vậy mà tôi vẫn nhớ như thể mới ngày hôm qua.

Đà Nẵng trước năm 1997 vẫn còn là đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh, người dân thường gọi quận 3 “bên kia sông” thấy xa xôi, cách trở làm sao? Chỉ cách con sông Hàn thôi, mà chênh lệch nhau quá, từ văn hóa, kinh tế, xã hội, đời sống… Vậy nên mới có câu: “Con gái quận 3, không bằng bà già quận nhất” là vậy…
Đứng bên phía thành phố nhìn qua quận 3, bên kia bờ sông Hàn là một dãy “nhà chồ” kéo dài gần hết đường Trần Hưng Đạo bây giờ, nhếch nhác; người dân sống ở khu “nhà chồ” không biết đã bao nhiêu thế hệ? Cuộc sống - mọi thứ sinh hoạt đều trên sông. Đặc biệt, con cái, hầu như không được đến trường với quan niệm lạc hậu, xưa cũ “có đi học cũng bắt được cá, không đi học cũng bắt được cá”!
Nhiều bạn bè tôi hay mặc cảm là ở quận 3. Một điều đáng suy ngẫm hơn là chính người dân quận 3, cứ mỗi lần sang phố mua sắm đồ đạc để chuẩn bị đón xuân về hay có chuyện gì cần, họ lại bảo nhau “hôm nay đi Đà Nẵng”, trong lúc họ đang ở trên đất Đà Nẵng…?! Vì một khoảng cách, vì một ranh giới thật mong manh… mà xa dài giữa bờ Đông và bờ Tây Đà Nẵng…
Cầu Nguyễn Văn Trỗi được xây dựng từ những năm 1960 của thế kỷ trước. Nó đã không gánh nổi nhu cầu giao thông đô thị. Sau đó, chính quyền buộc phải nâng cấp cầu đường sắt Trần Thị Lý thành cầu đường bộ, nhưng cũng phải chắp vá năm lần bảy lượt để đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân ngày ấy.

Đà Nẵng đổi mới và phát triển không ngừng
Hơn 1 năm sau, ngày Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, ngày 2/9/1998, cầu Sông Hàn được khởi công. Đây là một quyết tâm lớn của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Đà Nẵng. Cây cầu thể hiện quyết đoán mang tính đột phá của những người đứng đầu thành phố. Kinh phí xây cầu sông Hàn khoảng 100 tỷ đồng, phần lớn do người dân đóng góp. Và tấm lòng, cũng như sự kỳ vọng của người dân đã được đền đáp. Sau gần 1 năm thi công, ngày 29/3/2000, cầu quay sông Hàn được khánh thành. Ngày vui năm ấy vỡ òa và rộn ràng cả thành phố, sang những tỉnh lân cận... Đúng thời khắc quan trọng nhất, nhịp chính của cây cầu từ vị trí vuông góc dần xoay nối nhịp.
Lần đầu tiên, tôi đi trên chiếc cầu trong dịp khánh thành để sang quận 3 một cách nhanh và gần nhất. Trong khung cảnh náo nhiệt, tôi cố nán lại lan can cầu nhìn về phía Tây. Cách nơi tôi đứng không xa, chiếc phà nhiều thập niên đưa khách qua lại trên sông Hàn, được “dưỡng lão” - neo đậu tại bến. Niềm vui hòa quyện với hoài niệm làm tôi không nén nổi cảm xúc. Giữa khung cảnh đất và trời, lòng người đang náo nức với thời khắc đổi thay lịch sử, chiếc phà như lặng lẽ hiểu rằng “mình vừa hoàn thành một sứ mệnh lịch sử sau những thập niên dài ra sức gồng mình chấp nhận số phận”…
Cây cầu mới sông Hàn ra đời, Thành phố biển như bừng tỉnh, sau những thập niên dài ngủ quên, đến lúc phải vươn vai, sải bước về phía biển. Từ đó, hàng loạt công trình cơ sở hạ tầng mọc lên, bờ đông sông Hàn thay đổi diện mạo đến chóng mặt. Đà Nẵng lúc đó như một đại công trình, làm cho chính người dân thành phố, kể cả giới báo chí như chúng tôi, phải ngỡ ngàng, huống gì khách thập phương đến?
Khu “nhà chồ” cùng những dãy nhà nhếch nhác, tạm bợ dọc bờ sông, nhường chỗ cho tuyến đường ven sông (nay là đường Trần Hưng Đạo) diễm lệ. Quận Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn (nay là phường Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn) thay da đổi thịt từng ngày, hòa cùng với các phường Hải Châu, Thanh Khê, Hòa Khánh, Liên Chiểu, Hải Vân… làm nên một diện mạo mới hoàn toàn, đầy xuân sắc cho đô thị Đà Nẵng xứng tầm với vị thế mới.
Cầu sông Hàn có một vị trí đặc biệt trong lòng người dân TP. Đà Nẵng là vậy!

Sau đó là cầu mới Trần Thị Lý cùng hệ thống cáp dây văng - tạo nên hình ảnh cánh buồm căng gió đang vươn khơi. Với phương án kiến trúc này, cầu mới Trần Thị Lý là cây cầu thứ hai trên thế giới có kết cấu và hình dáng độc đáo. Sau đó là cầu Tuyên Sơn, cầu mới Nguyễn Tri Phương, cầu Hòa Xuân, cầu bắc qua sông Cái, cầu Cẩm Lệ…
Riêng cây cầu Nguyễn Văn Trỗi, đầu năm 2012, lãnh đạo thành phố quyết định giữ lại cây cầu này, có kết cấu dạng cầu dàn thép poni với kiến trúc khá đẹp – trở thành cầu đi bộ, đồng thời bố trí cảnh quan phù hợp để người dân và khách thập phương có thể dừng trên cầu nghỉ ngơi, vãn cảnh sông Hàn, cùng vẻ đẹp của cầu Rồng và cầu Trần Thị Lý (mới), Cầu Thuận Phước...


Việc giữ lại cầu Nguyễn Văn Trỗi, vừa như một chứng nhân lịch sử cho bao năm tháng thăng trầm, đổi thay của quê hương, vừa như một công trình phục vụ du lịch - được người dân bày tỏ sự đồng thuận.
Đà Nẵng được cả nước biết đến về sự đột phá trong việc tìm tòi, dựng xây cái mới, hướng tới cái đẹp; nhưng cũng biết lắng nghe để nâng niu, gìn giữ những gì thuộc về lịch sử văn hóa với tất cả sự cầu thị. TP. Đà Nẵng đã và đang vươn lên một tầm cao mới…
Bút ký của Hoàng Hữu Quyết
























