Giá giảm làm thay đổi cục diện xuất khẩu

Những tháng đầu năm 2026 cho thấy thị trường cà phê toàn cầu đã không còn thuận lợi như giai đoạn 2024-2025. Nếu trước đây giá tăng giúp doanh nghiệp và nông dân hưởng lợi lớn thì nay, khi nguồn cung dần phục hồi, lợi thế đó đang thu hẹp nhanh chóng.

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, riêng tháng 6/2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 150.000 tấn cà phê, thu về hơn 552 triệu USD. Tính chung 6 tháng đầu năm, lượng xuất khẩu đạt khoảng 1,1 triệu tấn, tăng gần 10% so với cùng kỳ năm trước.

Xuất khẩu cà phê năm 2026 đứng trước nhiều thách thức khi chi phí logistics ở mức cao và mặt bằng giá xuất khẩu không còn duy trì như giai đoạn trước. Ảnh minh họa.
Xuất khẩu cà phê năm 2026 đứng trước nhiều thách thức khi chi phí logistics ở mức cao và mặt bằng giá xuất khẩu không còn duy trì như giai đoạn trước. Ảnh minh họa.

Tuy nhiên, bức tranh doanh thu lại đi theo chiều ngược lại. Kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt khoảng 4,78 tỷ USD, giảm hơn 14% so với cùng kỳ năm 2025.

Điểm đáng chú ý là sự suy giảm này không xuất phát từ nhu cầu thị trường lao dốc mà chủ yếu do giá xuất khẩu bình quân giảm mạnh. Bình quân mỗi tấn cà phê xuất khẩu chỉ đạt khoảng 4.435 USD, thấp hơn khoảng 22% so với cùng kỳ năm trước.

Diễn biến trên phản ánh một thực tế rằng chỉ tăng sản lượng không còn đủ để duy trì tốc độ tăng trưởng kim ngạch như những năm gần đây. Khi mặt bằng giá giảm, hiệu quả xuất khẩu phụ thuộc nhiều hơn vào giá trị gia tăng của từng sản phẩm.

Cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt

Theo các doanh nghiệp và chuyên gia trong ngành, áp lực lớn nhất hiện nay đến từ sự gia tăng nguồn cung trên thị trường thế giới.

Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (Vicofa) cho biết Brazil tiếp tục mở rộng diện tích và sản lượng, khiến lượng cà phê cung ứng toàn cầu tăng đáng kể. Dự báo niên vụ 2025-2026, sản lượng cà phê thế giới có thể đạt khoảng 180 triệu bao, cao hơn gần 8 triệu bao so với niên vụ trước.

Nguồn cung dồi dào khiến giá cà phê quốc tế chịu áp lực giảm trong khi các quốc gia xuất khẩu lớn cạnh tranh quyết liệt hơn về giá.

Đối với Việt Nam, điều này đặc biệt đáng chú ý bởi Robusta vẫn là dòng sản phẩm xuất khẩu chủ lực. Khi Brazil gia tăng sản lượng Robusta, lợi thế truyền thống của cà phê Việt Nam sẽ chịu sức ép lớn hơn.

Không chỉ cạnh tranh về giá, doanh nghiệp còn phải đối mặt với chi phí logistics, cước vận tải biển và những biến động địa chính trị khiến hoạt động giao thương tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Ở góc độ thị trường, các đối tác truyền thống vẫn duy trì vai trò quan trọng nhưng kim ngạch đều giảm. Đức, Italia và Hoa Kỳ tiếp tục là ba thị trường nhập khẩu lớn nhất của cà phê Việt Nam, song giá trị xuất khẩu sang các thị trường này đều thấp hơn cùng kỳ năm trước.

Ngược lại, Trung Quốc nổi lên là thị trường có tốc độ tăng trưởng tích cực nhất trong nhóm các đối tác lớn khi kim ngạch tăng trên 70%. Đây được xem là tín hiệu cho thấy doanh nghiệp vẫn còn dư địa mở rộng thị trường nếu tận dụng tốt nhu cầu tiêu dùng đang gia tăng tại khu vực châu Á.

Chất lượng sẽ quyết định sức cạnh tranh

Theo Vicofa, mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu của ngành cà phê trong năm 2026 sẽ chịu nhiều sức ép khi quy luật nhiều năm cho thấy lượng xuất khẩu nửa cuối năm thường thấp hơn 6 tháng đầu năm.

Bên cạnh đó, những diễn biến bất thường của thời tiết dưới tác động của El Niño có thể ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây cà phê tại nhiều quốc gia sản xuất ở châu Á, tạo thêm yếu tố khó lường cho thị trường trong thời gian tới.

Trong bối cảnh đó, các chuyên gia cho rằng ngành cà phê không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào xuất khẩu cà phê nhân như trước.

Thay vào đó, việc đầu tư vào chế biến sâu, nâng tỷ trọng cà phê rang xay, hòa tan, cà phê đặc sản và các sản phẩm có chứng nhận bền vững sẽ giúp doanh nghiệp cải thiện giá trị thu về trên mỗi đơn vị sản phẩm.

Hiện khoảng 30% diện tích cà phê của Việt Nam đã đạt các chứng nhận sản xuất bền vững. Đây là nền tảng quan trọng để đáp ứng các quy định ngày càng khắt khe của các thị trường nhập khẩu, đặc biệt là châu Âu.

Vicofa cũng kiến nghị tiếp tục mở rộng hoạt động xúc tiến thương mại tại các thị trường còn nhiều dư địa như Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc, Algeria và nhóm thị trường tiêu thụ cà phê đặc sản, hữu cơ ở Bắc Âu; đồng thời tăng cường kết nối với các hệ thống bán lẻ quốc tế nhằm mở rộng đầu ra cho sản phẩm chế biến.

Theo các chuyên gia, giai đoạn giá cà phê tăng mạnh đã mang lại nguồn lực đáng kể cho cả doanh nghiệp lẫn người trồng. Tuy nhiên, khi chu kỳ giá cao dần khép lại, sức cạnh tranh của ngành sẽ không còn được quyết định bởi sản lượng hay biến động giá ngắn hạn, mà phụ thuộc vào khả năng xây dựng thương hiệu, nâng cao chất lượng và tạo ra giá trị gia tăng trong toàn bộ chuỗi sản xuất.

Nam Sơn (t/h)