Tại tọa đàm “Hành trình vì hàng triệu bữa ăn an toàn” do Tạp chí Thương hiệu và Công luận phối hợp Chi cục Chăn nuôi và Thú y TP.HCM tổ chức, các đại biểu đã cùng nhìn lại những nguy cơ đang đặt ra đối với chuỗi cung ứng thực phẩm, đồng thời đưa ra nhiều giải pháp từ kiểm soát chăn nuôi, vận chuyển, giết mổ đến sản xuất, phân phối và truy xuất nguồn gốc.
Điểm chung được nhấn mạnh là an toàn thực phẩm không thể chỉ được kiểm soát ở khâu cuối mà phải được bảo vệ xuyên suốt từ đầu nguồn đến bàn ăn.

An toàn không bắt đầu từ căn bếp
Phát biểu đề dẫn tọa đàm, ông Trần Phú Cường, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y TP.HCM, cho rằng phía sau một miếng thịt, quả trứng hay bất kỳ sản phẩm thực phẩm nào đến tay người dân là cả một chuỗi liên kết dài, bắt đầu từ con giống, thức ăn chăn nuôi, quá trình nuôi dưỡng, phòng chống dịch bệnh, sử dụng thuốc thú y, rồi đến vận chuyển, giết mổ, sơ chế, chế biến, phân phối và cuối cùng mới là người tiêu dùng. Chỉ cần một mắt xích không được kiểm soát tốt, nguy cơ mất an toàn thực phẩm có thể phát sinh và lan truyền rất nhanh.
Đối với TP.HCM, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi thành phố có dân số đông, nhu cầu tiêu thụ thực phẩm mỗi ngày rất lớn và nguồn thực phẩm được cung ứng từ nhiều địa phương. Vì vậy, theo ông Cường, bảo đảm an toàn thực phẩm không thể là nhiệm vụ riêng của một ngành, một cơ quan hay một doanh nghiệp, mà phải là trách nhiệm chung của cả hệ thống và tất cả chủ thể tham gia trong chuỗi thực phẩm.

Với ngành Chăn nuôi và Thú y, trách nhiệm phải được bắt đầu từ trước khi sản phẩm trở thành thực phẩm trên thị trường. Đó là kiểm soát dịch bệnh trên đàn vật nuôi, hướng dẫn và giám sát việc sử dụng thuốc thú y, kiểm soát điều kiện chăn nuôi, vận chuyển động vật và sản phẩm động vật, hoạt động giết mổ cũng như kiểm soát thú y trước khi sản phẩm được đưa ra thị trường.
Ông Cường nhấn mạnh, không có một “cánh cửa” duy nhất có thể bảo đảm an toàn thực phẩm. An toàn phải được tạo ra và kiểm soát qua nhiều lớp. Từ cơ sở chăn nuôi, vật nuôi phải được chăm sóc đúng quy trình, sử dụng thuốc và thức ăn đúng quy định; đến khâu vận chuyển, giết mổ phải kiểm soát nguồn gốc, tình trạng động vật, điều kiện vệ sinh; rồi tiếp tục kiểm soát tại khâu phân phối, kinh doanh và tiêu dùng. Người tiêu dùng cũng là một mắt xích quan trọng trong việc phát hiện, phản ánh và loại bỏ sản phẩm không bảo đảm an toàn khỏi thị trường.
Từ cách tiếp cận đó, câu hỏi lớn được đặt ra không chỉ là làm thế nào để kiểm soát thực phẩm, mà là làm thế nào để tất cả các mắt xích cùng có trách nhiệm, cùng phối hợp và cùng hướng đến mục tiêu bảo vệ sức khỏe người dân. Mỗi bên đứng ở một vị trí khác nhau, thực hiện một chức năng khác nhau, nhưng cùng hướng về một điểm đến: một bữa ăn an toàn cho người dân thành phố.


Đối với cơ quan quản lý, yêu cầu là nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát, chuyển mạnh từ xử lý khi vi phạm xảy ra sang phòng ngừa, kiểm soát rủi ro từ sớm, từ xa. Với doanh nghiệp, an toàn thực phẩm không chỉ dừng ở yêu cầu bắt buộc mà cần trở thành giá trị cốt lõi và uy tín của thương hiệu.
Với hệ thống phân phối, sản phẩm an toàn, có nguồn gốc rõ ràng cần được ưu tiên để người tiêu dùng dễ dàng nhận biết. Còn người tiêu dùng cần nâng cao kỹ năng lựa chọn, quan tâm đến nguồn gốc, thông tin sản phẩm và mạnh dạn phản ánh khi phát hiện dấu hiệu bất thường.
Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y TP.HCM nhấn mạnh một trong những thông điệp quan trọng của tọa đàm là “An toàn thực phẩm không bắt đầu từ căn bếp. An toàn thực phẩm bắt đầu từ trang trại và phải được duy trì xuyên suốt cả chuỗi cho đến bàn ăn”. Nếu mỗi khâu đều làm đúng, mỗi chủ thể đều có trách nhiệm và các cơ quan phối hợp chặt chẽ, hệ thống kiểm soát sẽ chủ động, minh bạch và hiệu quả hơn.
Mục tiêu cuối cùng, theo ông Cường, không phải là có thêm bao nhiêu cuộc kiểm tra hay xử lý bao nhiêu vụ vi phạm, mà là làm sao để người dân được ăn ngon, ăn an toàn và yên tâm trong chính bữa ăn hằng ngày. Ngành Chăn nuôi và Thú y sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương, doanh nghiệp và các tổ chức liên quan để kiểm soát tốt hơn nguy cơ từ động vật, sản phẩm động vật, hướng đến một chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn, minh bạch và có trách nhiệm.
Kiểm soát từ đầu nguồn, không để nguy cơ đi sâu vào chuỗi
Từ quan điểm “phòng ngừa từ sớm, từ xa”, nội dung tham luận của ông Nguyễn Hữu Thiết, Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y TP.HCM, Trưởng đoàn kiểm tra liên ngành về công tác phòng chống dịch bệnh động vật và kiểm soát giết mổ TP, đi sâu vào thực trạng và giải pháp ngăn chặn thực phẩm không an toàn ngay từ đầu nguồn.
Theo tư liệu, quy mô nguồn cung thực phẩm có nguồn gốc động vật của TP.HCM rất lớn. Thành phố có hơn 1,3 triệu con heo, gần 96.000 con trâu, bò và hơn 21 triệu con gia cầm; hệ thống giết mổ gồm 81 cơ sở. Lượng giết mổ bình quân ngày đêm hơn 657 tấn thịt gia súc và hơn 201 tấn thịt gia cầm. Nguồn cung này cùng với sản phẩm động vật nhập từ các địa phương khác tạo nên một chuỗi cung ứng rộng lớn, đặt ra yêu cầu kiểm soát chặt chẽ hơn.

Trong bối cảnh quy mô dân số TP tăng lên khoảng 14 triệu người sau khi mở rộng địa giới hành chính, nhu cầu tiêu thụ thực phẩm cũng tăng theo. Trong khi đó, nguồn cung thực phẩm có nguồn gốc động vật từ hoạt động giết mổ tại thành phố chỉ đáp ứng khoảng một nửa nhu cầu, phần còn lại phải nhập từ các tỉnh, thành khác. Đây là một trong những nguyên nhân khiến việc kiểm soát nguồn gốc, vận chuyển động vật và sản phẩm động vật trở thành nhiệm vụ quan trọng.
Theo ông Thiết, Chi cục Chăn nuôi và Thú y đã tham mưu UBND TP.HCM thành lập Đoàn kiểm tra liên ngành về công tác phòng, chống dịch bệnh động vật và kiểm soát giết mổ. Lực lượng chức năng thường xuyên kiểm tra tại các tuyến giao thông cửa ngõ, tập trung phát hiện, xử lý phương tiện vận chuyển động vật, sản phẩm động vật không rõ nguồn gốc, không có giấy chứng nhận kiểm dịch; động vật mắc bệnh, sản phẩm không đạt chất lượng hoặc có dấu hiệu sử dụng chất cấm.
Từ tháng 3/2026 đến nay, Chi cục, các đơn vị trực thuộc và Đoàn kiểm tra liên ngành đã phát hiện 61 trường hợp vi phạm, ban hành 61 quyết định xử phạt với tổng số tiền hơn 439 triệu đồng; đồng thời xử lý tiêu hủy gần 50.000 kg động vật, sản phẩm động vật không bảo đảm vệ sinh thú y.
Đáng chú ý, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý tiêu hủy ba lô heo với tổng cộng 280 con có chất cấm thuộc nhóm Beta-agonist, gồm Salbutamol và Clenbuterol. Một lô 80 con còn phát hiện virus dịch tả heo châu Phi. Những vụ việc này cho thấy nếu không có hoạt động kiểm tra, lấy mẫu, xét nghiệm và kiểm soát ngay tại các tuyến đầu vào, nguy cơ có thể tiếp tục đi sâu hơn vào chuỗi cung ứng thực phẩm.
Song song với xử lý vi phạm, công tác giám sát cũng được tăng cường. Trong 8 tháng đầu năm 2026, Chi cục đã lấy 2.250 mẫu nước tiểu heo tại các cơ sở giết mổ để xét nghiệm 6.750 chỉ tiêu tồn dư chất cấm nhóm Beta-agonist gồm Salbutamol, Ractopamine và Clenbuterol.
Về lâu dài, giải pháp được đặt ra là kiểm soát ngay tại cơ sở chăn nuôi, yêu cầu kê khai hoạt động, ghi chép việc sử dụng thuốc thú y, thức ăn, phụ gia; đồng thời tuân thủ thời gian ngừng thuốc trước khi xuất bán. Cùng với đó là tăng cường truy xuất nguồn gốc, liên thông dữ liệu kiểm dịch giữa các địa phương, quy hoạch hệ thống giết mổ tập trung và tăng cường liên kết vùng.
Doanh nghiệp phải kiểm soát được chính chuỗi của mình
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Văn Minh, Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Nông nghiệp BAF Việt Nam, mang đến tọa đàm câu chuyện xây dựng chuỗi thực phẩm an toàn từ trang trại đến hệ thống phân phối.
BAF được thành lập năm 2017, hoạt động trong lĩnh vực nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, chăn nuôi heo giống, heo thịt thương phẩm và sản phẩm chế biến từ thịt theo mô hình chuỗi 3F khép kín Feed - Farm - Food, với định hướng “từ trang trại sạch đến bữa cơm lành”. Doanh nghiệp hiện có ba nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi đang vận hành tại Tây Ninh và Nghệ An, gần 50 trại heo tại nhiều tỉnh, thành cùng các dự án đang được triển khai.
Điểm đáng chú ý trong mô hình được giới thiệu là doanh nghiệp không chỉ tập trung vào khâu chăn nuôi mà hướng đến kiểm soát toàn bộ chuỗi. BAF đặt mục tiêu phát triển phòng lab chẩn đoán công nghệ cao để chủ động tầm soát và kiểm soát dịch bệnh; xây dựng Trung tâm R&D nghiên cứu về dinh dưỡng, vi sinh; chủ động nguồn gen; phát triển nhân lực chất lượng cao và hệ thống trang trại trên cả ba miền.

Tại các trang trại, đơn vị ứng dụng công nghệ quản lý an toàn sinh học, quản lý tiểu khí hậu, lọc không khí, khử mùi, theo dõi sức khỏe vật nuôi và chẩn đoán sớm. Đây là cách tiếp cận nhằm đưa kiểm soát an toàn lên ngay từ quá trình sản xuất thay vì chờ đến khi sản phẩm đã ra thị trường.
Ở khâu cuối của chuỗi, BAF phát triển hệ thống Meatshop với độ phủ tại nhiều tỉnh, thành. Riêng TP.HCM, tài liệu ghi nhận 164 cửa hàng tại thời điểm tháng 3/2026. Doanh nghiệp đặt mục tiêu đến cuối năm 2026 đạt 2.000 cửa hàng trên toàn quốc và hướng đến 20.000 điểm vào năm 2030.
Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Nông nghiệp BAF Việt Nam cũng giới thiệu đến tọa đàm về dòng thịt mát theo quy trình 3F, công nghệ đóng gói Oxy Fresh và khả năng truy xuất nguồn gốc. Với mô hình này, câu chuyện an toàn thực phẩm được doanh nghiệp đặt trong một chuỗi liên tục: từ thức ăn, con giống, trang trại, chế biến cho đến điểm bán.
“Tick xanh trách nhiệm” để thị trường tự sàng lọc
Nếu ngành Chăn nuôi và Thú y tập trung vào đầu nguồn, doanh nghiệp xây dựng chuỗi sản xuất, thì tham luận của ông Phạm Quang Hợi, Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển công nghiệp - công nghiệp hỗ trợ TP.HCM, đặt vấn đề ở một khâu khác: làm thế nào để thị trường nhận diện được đâu là sản phẩm an toàn và đâu là sản phẩm không bảo đảm chất lượng?
Tham luận “Tick xanh trách nhiệm: Giải pháp kiểm soát nguồn gốc, minh bạch chất lượng hàng hóa - lợi thế cho doanh nghiệp chân chính” chỉ ra một nghịch lý: dù cơ quan quản lý đã triển khai nhiều biện pháp kiểm tra, xử lý, thực phẩm không rõ nguồn gốc, không bảo đảm chất lượng vẫn có thể “len lỏi” ra thị trường.

Trong khi đó, sản phẩm an toàn lại có thể phải đứng cạnh sản phẩm kém chất lượng trên cùng quầy kệ, khiến người tiêu dùng khó phân biệt và cuối cùng phải lựa chọn chủ yếu dựa vào giá. Điều này tạo ra sự cạnh tranh bất bình đẳng đối với những doanh nghiệp đầu tư bài bản cho chất lượng.
Từ thực tế ấy, đơn vị vận động các tập đoàn bán lẻ phối hợp triển khai Chương trình Hợp tác kiểm soát chất lượng hàng hóa - “Tick xanh trách nhiệm”. Điểm cốt lõi của chương trình là huy động sức mạnh của thị trường thông qua sự hợp tác tự nguyện giữa nhà cung cấp và hệ thống phân phối, dưới sự định hướng, hỗ trợ của Nhà nước và sự giám sát của người tiêu dùng.

Bốn chủ thể được xác định rõ trách nhiệm. Nhà cung cấp phải công khai, minh bạch quy trình sản xuất, chịu giám sát chất lượng và chủ động ngăn sản phẩm lỗi trước khi đến tay người tiêu dùng. Nhà bán lẻ cùng hành động, ngăn sản phẩm kém chất lượng và có chính sách hỗ trợ sản phẩm đáp ứng yêu cầu. Nhà nước tăng cường quản lý và hỗ trợ các giải pháp phòng ngừa. Người tiêu dùng vừa lựa chọn, vừa tham gia giám sát sản phẩm mang nhãn “Tick xanh trách nhiệm”.
““Tick xanh trách nhiệm” không phải là một thủ tục hành chính mới mà được kỳ vọng trở thành lợi thế cạnh tranh thực chất của doanh nghiệp chân chính. Khi được gắn nhãn, sản phẩm có thể giúp người tiêu dùng tiếp cận thông tin qua mã QR, rút ngắn khoảng cách niềm tin giữa nhà sản xuất và người mua; đồng thời doanh nghiệp có cơ hội được các hệ thống bán lẻ đồng hành, mở rộng thị trường và định vị thương hiệu” - ông Phạm Quang Hợi nhấn mạnh.
Nhưng đi cùng quyền lợi là trách nhiệm. Doanh nghiệp phải tuân thủ quy định về an toàn thực phẩm, thực hiện cam kết chất lượng, công khai quy trình kiểm soát và chủ động thu hồi khi phát hiện sản phẩm lỗi. Đặc biệt, chương trình đặt ra cơ chế chia sẻ thông tin vi phạm giữa các hệ thống bán lẻ tham gia. Một nhà cung cấp vi phạm cam kết với một nhà bán lẻ được xem là vi phạm cam kết với toàn bộ hệ thống tham gia chương trình.
Chính cơ chế này nhằm tạo ra một thị trường có sự sàng lọc rõ ràng hơn, trong đó doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc được bảo vệ và sản phẩm không rõ nguồn gốc, không bảo đảm chất lượng từng bước bị loại khỏi cuộc chơi.
Nhóm phóng viên VPĐD TP.HCM




















