Cụ thể, Cục Hải quan khẳng định, pháp luật trong lĩnh vực hải quan quy định việc phân loại hàng hóa nhằm xác định mã HS làm cơ sở tính thuế và thực hiện chính sách quản lý hàng hóa. Việc phân loại phải căn cứ hồ sơ hải quan, tài liệu kỹ thuật và các thông tin liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu để xác định tên gọi, mã số theo Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam.
Tại Điều 26 Luật Hải quan quy định khi phân loại hàng hóa phải căn cứ hồ sơ hải quan, tài liệu kỹ thuật và các thông tin khác có liên quan đến hàng hóa để xác định tên gọi, mã số.
Ngoài ra, Điều 16 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP cũng quy định việc phân loại phải căn cứ vào hồ sơ hải quan, tài liệu kỹ thuật và các thông tin về thành phần, tính chất lý, hóa, tính năng, công dụng của hàng hóa.

Đáng chú ý, khoản 1 Điều 4 Thông tư số 14/2015/TT-BTC quy định một mặt hàng chỉ có một mã số duy nhất theo Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam.
Cục Hải quan cũng cho biết, đối với trường hợp có sự khác biệt trong việc áp dụng Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam hoặc có sự khác biệt giữa các danh mục hàng hóa do các bộ, cơ quan ngang bộ ban hành với Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam, khoản 4 Điều 19 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 167/2025/NĐ-CP quy định, Bộ Tài chính có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, tổ chức liên quan để quyết định việc phân loại hàng hóa.
Đối với nhóm hàng thiết bị y tế, thuốc, nguyên liệu sản xuất thuốc và thực phẩm chức năng, Bộ Y tế là cơ quan quản lý chuyên ngành chịu trách nhiệm xây dựng và ban hành danh mục hàng hóa quản lý chuyên ngành.
Tuy nhiên, Bộ Tài chính, cơ quan Hải quan, có trách nhiệm phân loại hàng hóa theo Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam để xác định mã HS làm cơ sở tính thuế và thực hiện chính sách quản lý hàng hóa.
Các quy định của Bộ Y tế cũng đã xác định cách xử lý trong trường hợp phát sinh khác biệt về mã số. Theo Thông tư số 40/2016/TT-BYT, Thông tư số 05/2018/TT-BYT và Thông tư số 28/2021/TT-BYT, đối với sản phẩm, hàng hóa trong danh mục nhưng chưa liệt kê mã số hoặc chỉ liệt kê mã 4 số hoặc 6 chữ số, doanh nghiệp phải cung cấp cho cơ quan Hải quan đầy đủ thông tin về hàng hóa, gồm thành phần, cấu tạo, công dụng, tài liệu kỹ thuật nếu có; đồng thời cam kết chịu trách nhiệm về nội dung khai báo và sử dụng hàng hóa nhập khẩu đúng mục đích.
Trong trường hợp xảy ra tranh chấp liên quan đến mã số HS trong danh mục, Cục An toàn thực phẩm thuộc Bộ Y tế chủ trì phối hợp với cơ quan Hải quan để xem xét, thống nhất và quyết định mã số.
Đối với các trường hợp có sự khác biệt, không thống nhất trong phân loại và xác định mã số hàng hóa thuộc danh mục, các Thông tư số 15/2024/TT-BYT, Thông tư số 09/2024/TT-BYT và Thông tư số 19/2024/TT-BYT của Bộ Y tế đều quy định việc xác định mã số thực hiện theo pháp luật về hải quan.
Trên cơ sở các quy định hiện hành, Bộ Y tế chịu trách nhiệm xây dựng, ban hành danh mục quản lý chuyên ngành; Bộ Tài chính (cơ quan Hải quan) thực hiện phân loại hàng hóa theo Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam.
Trường hợp có sự không thống nhất về mã số, Bộ Tài chính (Cục Hải quan) có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế để xác định mã HS theo quy định của pháp luật hải quan. Như vậy, Bộ Tài chính (Cục Hải quan) là cơ quan có trách nhiệm cuối cùng về xác định mã số hàng hóa để tính thuế.
Liên quan đến xử lý thuế, Cục Hải quan viện dẫn quy định tại tiết c khoản 2 Điều 18 Luật Hải quan, theo đó người khai hải quan có nghĩa vụ chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực của nội dung đã khai và các chứng từ đã nộp, xuất trình; đồng thời chịu trách nhiệm về sự thống nhất giữa hồ sơ lưu tại doanh nghiệp với hồ sơ lưu tại cơ quan Hải quan.
Việc ấn định thuế được thực hiện theo Điều 25 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, Điều 39 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP và Điều 33 Thông tư số 86/2026/TT-BTC.
Qua trả lời kiến nghị, Cục Hải quan cho biết, danh mục quản lý chuyên ngành của Bộ Y tế là cơ sở thực hiện quản lý chuyên ngành, còn việc phân loại, xác định mã số theo Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam để tính thuế thuộc trách nhiệm của cơ quan Hải quan. Việc xử lý thuế và xử phạt vi phạm hành chính phải được xem xét trên cơ sở quy định pháp luật và hồ sơ cụ thể của từng vụ việc.
Về xử phạt vi phạm hành chính, Cục Hải quan lưu ý, nguyên tắc chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định.
Theo khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính, vi phạm hành chính phải là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính. Các trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan được quy định tại Điều 7 Nghị định số 169/2026/NĐ-CP.
Theo Cục Hải quan, việc xem xét không xử phạt vi phạm hành chính đối với trường hợp doanh nghiệp đã kê khai đầy đủ, trung thực theo hướng dẫn của cơ quan chuyên ngành phải căn cứ các quy định nêu trên và hồ sơ vụ việc cụ thể để thực hiện.
Tuấn Ngọc























