Đà Nẵng phấn đấu triển khai 1-3 dự án carbon rừng thí điểm, từng bước hoàn thiện quy trình đo đạc, báo cáo, thẩm định và xác minh. Ảnh: Cổng thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng.
Đà Nẵng phấn đấu triển khai 1-3 dự án carbon rừng thí điểm, từng bước hoàn thiện quy trình đo đạc, báo cáo, thẩm định và xác minh. Ảnh: Cổng thông tin điện tử TP. Đà Nẵng.

Từ mục tiêu dự án đến năng lực tạo tín chỉ

Ngày 18/8, UBND TP. Đà Nẵng ban hành Quyết định số 3688/QĐ-UBND phê duyệt Đề án phát triển và quản lý tín chỉ carbon rừng giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035. Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 có 1-3 dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, hợp tác với ít nhất hai đối tác trong nước và quốc tế, hoàn thành tối thiểu 1-2 hồ sơ đăng ký dự án và ký ít nhất một hợp đồng mua bán tín chỉ carbon.

Đây là những mốc cụ thể, nhưng số dự án không phải thước đo duy nhất. Giá trị thực nằm ở lượng giảm phát thải hoặc tăng hấp thụ được xác định, thẩm định, cấp tín chỉ và không bị tính trùng. Một khu rừng hiện hữu không mặc nhiên tạo ra tín chỉ để bán; dự án phải chứng minh kết quả khí hậu tăng thêm so với đường cơ sở, duy trì được kết quả trong thời gian cam kết và kiểm soát nguy cơ mất rừng chuyển sang khu vực khác.

Vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên của TP. Đà Nẵng là điều tra, rà soát hiện trạng, tính toán trữ lượng carbon và phân loại toàn bộ diện tích rừng có tiềm năng. Đề án yêu cầu xây dựng dữ liệu nền, xác lập đường cơ sở và mức tham chiếu phát thải rừng, phục vụ hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định và xác minh -  được gọi là MRV. Đây chính là “hạ tầng dữ liệu” quyết định một kết quả bảo vệ rừng có đủ độ tin cậy để trở thành hàng hóa môi trường hay không.

Không phải cứ có rừng là có nguồn thu

Sau hợp nhất, Đà Nẵng có không gian rừng rộng và đa dạng hơn, từ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ ven biển đến rừng tự nhiên miền núi, rừng sản xuất và khu vực giáp biên giới Việt Nam - Lào. Các hoạt động có thể hình thành dự án gồm: Bảo vệ rừng tự nhiên, phục hồi và làm giàu rừng, trồng rừng, quản lý rừng bền vững cùng các biện pháp lâm sinh làm tăng hấp thụ, lưu giữ carbon.

Nhưng tiềm năng sinh thái chưa đồng nghĩa với khả năng thương mại. Mỗi khu vực có hiện trạng, chủ quản lý, nguy cơ suy thoái và chi phí bảo vệ khác nhau. Dự án phải làm rõ ranh giới, quyền carbon, phương pháp tính, thời hạn giám sát và trách nhiệm khi lượng carbon đã được ghi nhận bị suy giảm do cháy rừng, thiên tai hoặc tác động của con người.

Chi phí hình thành tín chỉ cũng không nhỏ: Khảo sát, lập hồ sơ, đo đạc định kỳ, thẩm định độc lập, đăng ký, quản lý rủi ro và giao dịch. Nếu chỉ nhìn vào giá bán mà bỏ qua các chi phí này, kỳ vọng nguồn thu rất dễ cao hơn giá trị ròng thực tế. Do đó, trước khi lựa chọn dự án thí điểm, thành phố cần đánh giá đồng thời tiềm năng carbon, chi phí thực hiện, mức độ sẵn sàng của chủ rừng và lợi ích xã hội có thể tạo ra.

Ảnh: Huỳnh Văn Truyền
Ảnh: Huỳnh Văn Truyền

Khung pháp lý đã mở, yêu cầu minh bạch cao hơn

Nghị định số 180/2026/NĐ-CP của Chính phủ về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng có hiệu lực từ ngày 15/7/2026, tạo khung pháp lý chuyên ngành cho dự án, xác định kết quả giảm phát thải, cấp tín chỉ và chuyển nhượng. Theo quy định, giao dịch được thực hiện bằng hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch carbon; lượng tín chỉ trước khi chuyển nhượng phải được cơ quan có thẩm quyền xác nhận và tín chỉ đã bán không được tiếp tục giao dịch lần nữa.

Khung pháp lý mới cũng làm rõ hơn vai trò của chủ rừng và đại diện chủ sở hữu đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân. Điều này đặc biệt quan trọng với Đà Nẵng, nơi diện tích rừng do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng và các đơn vị được giao quản lý cùng tồn tại. Nếu quyền, nghĩa vụ và tỷ lệ hưởng lợi không được xác định ngay từ đầu, dự án có thể phát sinh tranh chấp hoặc không tạo được động lực giữ rừng lâu dài.

Đề án của thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 đào tạo chuyên sâu cho 100% cán bộ quản lý Nhà nước về lâm nghiệp và carbon rừng, đồng thời hướng dẫn ít nhất 70% chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình và cộng đồng có rừng đủ điều kiện tham gia. Đây là chỉ tiêu quan trọng, bởi thị trường carbon không chỉ cần chuyên gia kỹ thuật mà còn cần người giữ rừng hiểu mình đang cam kết điều gì, được hưởng gì và phải chịu trách nhiệm ra sao.

Rừng trên bán đảo Sơn Trà là một phần quan trọng trong hệ sinh thái và không gian xanh của Đà Nẵng. Ảnh: Huỳnh Văn Truyền.
Rừng trên bán đảo Sơn Trà là một phần quan trọng trong hệ sinh thái và không gian xanh của TP. Đà Nẵng. Ảnh: Huỳnh Văn Truyền.

Nguồn thu phải quay lại với rừng và người giữ rừng

Tín chỉ carbon chỉ tạo ra giá trị bền vững khi nguồn thu góp phần làm cho rừng tốt hơn. Theo định hướng của Đà Nẵng, nguồn lực này sẽ phục vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và cải thiện sinh kế. Cơ chế phân chia cần công khai các khoản chi phí dự án, phần tái đầu tư cho rừng, phần dành cho chủ rừng và cộng đồng, cùng phương thức giám sát việc sử dụng tiền.

Đặc biệt, cộng đồng miền núi không nên chỉ xuất hiện với vai trò người được tuyên truyền hoặc thuê tuần tra. Tri thức bản địa, công sức bảo vệ rừng và chi phí cơ hội khi hạn chế khai thác tài nguyên phải được lượng hóa trong phương án hưởng lợi. Khi người dân nhận được lợi ích ổn định, dự án carbon mới có khả năng giảm áp lực lên rừng thay vì tạo thêm một tầng thủ tục.

Đà Nẵng còn định hướng kết nối nguồn cung tín chỉ carbon rừng với thị trường trong nước và Trung tâm Tài chính quốc tế tại thành phố. Đây là triển vọng đáng chú ý, nhưng cần đi theo đúng thứ tự: Trước hết tạo tín chỉ có chất lượng và truy xuất được; sau đó mới xây dựng dịch vụ tư vấn, thẩm định, tài chính và giao dịch. Một trung tâm giao dịch chỉ có uy tín khi hàng hóa trên đó bảo đảm tính toàn vẹn môi trường.

Từ nay đến năm 2030, thành công của TP. Đà Nẵng không nên chỉ được tính bằng số dự án hay một hợp đồng đã ký. Thước đo thuyết phục hơn là dữ liệu rừng được chuẩn hóa, tín chỉ không bị tính trùng, nguồn thu được công khai và diện tích rừng tham gia dự án thực sự được bảo vệ tốt hơn. Khi đó, carbon rừng mới trở thành nguồn lực kinh tế xanh, thay vì chỉ là giá trị kỳ vọng trên giấy.

Sau khi sáp nhập với Quảng Nam, thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là khoảng 11.859,59 km². Với diện tích này, Đà Nẵng đứng thứ 11 trong tổng số các tỉnh, thành phố trên cả nước, đồng thời là thành phố trực thuộc Trung ương có diện tích lớn nhất tại Việt Nam.

Với tổng diện tích đất lâm nghiệp khoảng 808.451 ha. Trong đó, diện tích quy hoạch rừng và diện tích đã trồng cây rừng đạt hơn 745.000 ha (với hơn 503.000 ha rừng tự nhiên và gần 242.000 ha rừng trồng), tỷ lệ che phủ rừng đạt khoảng 58,25%.

Đình Lương