Tại phần thảo luận của tọa đàm “Hành trình vì hàng triệu bữa ăn an toàn” do Tạp chí Thương hiệu và Công luận phối hợp Chi cục Chăn nuôi và Thú y TP.HCM tổ chức, các đại biểu tập trung vào một câu hỏi xuyên suốt: Làm thế nào để việc bảo đảm an toàn thực phẩm không chỉ dừng ở yêu cầu pháp lý mà trở thành một phần thực chất trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp?

Từ góc nhìn của doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp sản xuất thực phẩm đến doanh nghiệp trong chuỗi chăn nuôi - thực phẩm, các ý kiến cho thấy để có một sản phẩm an toàn đến tay người tiêu dùng cần sự đầu tư, kiểm soát và trách nhiệm ở từng mắt xích.

 

Các đại biểu trao đổi tại tọa đàm.
Các đại biểu trao đổi tại buổi tọa đàm.

Doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ còn nhiều điểm nghẽn

TS Phan Hoàng Tuấn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP.HCM, cho rằng việc tuân thủ các quy định pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn về an toàn thực phẩm là yêu cầu đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực tế cho thấy không phải doanh nghiệp nào cũng có điều kiện như nhau để thực hiện các yêu cầu này.

Theo ông Tuấn, doanh nghiệp phải thường xuyên cập nhật và thực hiện nhiều quy định liên quan đến an toàn thực phẩm, trong đó có các yêu cầu về tiêu chuẩn, kiểm nghiệm, đánh giá, chứng nhận. Đây là những nội dung cần thiết để kiểm soát chất lượng nhưng cũng tạo ra chi phí tuân thủ, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.

TS Phan Hoàng Tuấn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP.HCM.
TS Phan Hoàng Tuấn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP.HCM.

TS Phan Hoàng Tuấn chỉ ra 5 điểm nghẽn chính mà doanh nghiệp nhỏ và vừa đang gặp phải: Thứ nhất là vốn, khi doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn để đầu tư công nghệ, thiết bị và nâng chuẩn; Thứ hai là chi phí tuân thủ, còn cao và phức tạp trong các khâu kiểm nghiệm, đánh giá, chứng nhận; Thứ ba là quản lý chất lượng, khi năng lực xây dựng và duy trì hệ thống quản lý chất lượng của một bộ phận doanh nghiệp còn hạn chế; Thứ tư là quản trị hiệu quả, liên quan đến năng lực quản trị, kiểm soát chi phí và tổ chức chuỗi; Thứ năm là thiếu ưu đãi đối với doanh nghiệp tuân thủ. Những doanh nghiệp làm đúng, đầu tư bài bản chưa được hưởng lợi tương xứng nhưng vẫn phải cạnh tranh với các sản phẩm giá rẻ, không bảo đảm tiêu chuẩn.

Từ thực tế đó, ông Tuấn cho rằng bài toán an toàn thực phẩm cần được nhìn nhận không chỉ ở góc độ yêu cầu doanh nghiệp phải tuân thủ mà còn phải tạo điều kiện để doanh nghiệp có khả năng tuân thủ.

“Muốn doanh nghiệp chịu trách nhiệm đến cùng với sản phẩm thì phải tạo điều kiện để doanh nghiệp có khả năng tuân thủ, có lợi khi tuân thủ và cạnh tranh công bằng khi tuân thủ” - ông Tuấn nhấn mạnh.

Kiểm soát an toàn thực phẩm phải bắt đầu từ nguyên liệu

Từ góc độ doanh nghiệp sản xuất, ông Trương Hải Hưng, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Việt Nam Kỹ nghệ Súc sản (Vissan), cho rằng kiểm soát an toàn thực phẩm phải được thực hiện ngay từ đầu vào.

Theo ông Hưng, bên cạnh việc tuân thủ các quy định của pháp luật, Vissan chủ động xây dựng hệ thống kiểm soát nhằm bảo đảm sản phẩm đưa ra thị trường đáp ứng yêu cầu về chất lượng và an toàn thực phẩm.

Doanh nghiệp áp dụng hệ thống HACCP để xác định các điểm cần kiểm soát, nhận diện những bước có nguy cơ và đưa ra biện pháp kiểm soát phù hợp. Đồng thời, Vissan áp dụng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm ISO 22000 để quản lý các yếu tố liên quan đến an toàn thực phẩm xuyên suốt quá trình từ đầu vào đến đầu ra.

ông Trương Hải Hưng, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Việt Nam Kỹ nghệ Súc sản (Vissan), cho rằng kiểm soát an toàn thực phẩm phải được thực hiện ngay từ đầu vào.
Ông Trương Hải Hưng, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Việt Nam Kỹ nghệ Súc sản (Vissan), cho rằng kiểm soát an toàn thực phẩm phải được thực hiện ngay từ đầu vào.

“Đầu tiên, đối với bất kỳ một sản phẩm nào thì phải kiểm soát nguyên vật liệu. Qua quá trình đó, chúng tôi xác định nhóm nguyên vật liệu nào có những rủi ro nhất định, từ đó phân ra các biện pháp kiểm soát trọng tâm” - ông Hưng chia sẻ.

Việc kiểm soát nguyên liệu, theo ông Hưng, còn gắn với quá trình thẩm định, đánh giá nhà cung cấp. Doanh nghiệp phải xác định các yếu tố có nguy cơ ảnh hưởng đến chất lượng, an toàn thực phẩm và đưa ra biện pháp kiểm soát phù hợp.

Đối với những yêu cầu cần thiết, doanh nghiệp thực hiện kiểm nghiệm để có cơ sở đánh giá nguyên liệu trước khi đưa vào sản xuất. Tuy nhiên, việc kiểm nghiệm cũng phải được tính toán phù hợp để vừa bảo đảm yêu cầu kiểm soát, vừa kiểm soát được chi phí.

“Chúng tôi phải có những kết quả kiểm nghiệm với chi phí hợp lý, bởi nếu chi phí quá cao thì sẽ ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm” - ông Hưng nói.

Theo ông Hưng, kiểm soát chất lượng cũng không thể thực hiện một lần rồi kết thúc mà phải được duy trì liên tục từ nguyên liệu đầu vào, quá trình sản xuất đến sản phẩm cuối cùng.

“Cái quan trọng là hệ thống phải đồng hành từ đầu đến cuối. Tính bền vững của hệ thống là phải liên tục kiểm soát, liên tục đánh giá” - ông Hưng nhấn mạnh.

Có sự cố phải biết sản phẩm đang ở đâu?

Một vấn đề khác được ông Trương Hải Hưng, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Việt Nam Kỹ nghệ Súc sản (Vissan) nhấn mạnh là khả năng ứng phó khi phát hiện sản phẩm có vấn đề sau khi đã đưa ra thị trường.

Theo ông, doanh nghiệp phải xây dựng kịch bản ứng phó từ trước, trong đó có quy trình xác định, cô lập, thông báo và thu hồi sản phẩm. Vissan cũng tổ chức diễn tập để các bộ phận liên quan nắm được quy trình và có khả năng phối hợp khi phát sinh sự cố.

Các đại biểu tham quan gian hàng trực bày thực phẩm bên lề tọa đàm.

Đặc biệt, truy xuất nguồn gốc đóng vai trò quan trọng trong quá trình này. Khi xảy ra sự cố, doanh nghiệp cần xác định sản phẩm xuất phát từ đâu, đã được đưa đến những đâu và đang lưu thông qua những kênh nào. Từ đó mới có thể xác định phạm vi ảnh hưởng và tổ chức thu hồi phù hợp.

“Cuối cùng là làm sao khi thu hồi thì phải đúng nơi, đúng chỗ. Nếu xác định được sản phẩm đang ở đâu, lưu thông qua những kênh nào thì mình mới có thể đưa ra phương án thu hồi hiệu quả” - ông Hưng nói.

Như vậy, với doanh nghiệp sản xuất, an toàn thực phẩm không chỉ là câu chuyện kiểm tra sản phẩm cuối cùng mà là cả một hệ thống kiểm soát từ nguyên liệu, nhà cung cấp, sản xuất, kiểm nghiệm đến truy xuất và ứng phó sự cố.

Đầu tư cho an toàn thực phẩm cũng là đầu tư cho giá trị sản phẩm

Cũng từ góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Văn Minh, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Nông nghiệp B.A.F Việt Nam, nhìn nhận việc xây dựng hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm chắc chắn làm phát sinh chi phí.

Tuy nhiên, theo ông, điều quan trọng đầu tiên không nằm ở máy móc hay thiết bị mà là tầm nhìn, sự cam kết và quyết tâm của lãnh đạo doanh nghiệp.

“Bất kỳ một khâu nào trong toàn bộ quá trình sản xuất, từ nhà máy, trang trại, nguyên liệu đầu vào cho đến các đối tác, các bên liên quan, nếu không có sự quyết tâm của lãnh đạo doanh nghiệp thì việc triển khai sẽ rất khó đạt được hiệu quả” - ông Minh chia sẻ.

 

ông Nguyễn Văn Minh, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Nông nghiệp B.A.F Việt Nam, nhìn nhận việc xây dựng hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm chắc chắn làm phát sinh chi phí.
Ông Nguyễn Văn Minh, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Nông nghiệp B.A.F Việt Nam, nhìn nhận việc xây dựng hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm chắc chắn làm phát sinh chi phí.

Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Nông nghiệp B.A.F Việt Nam cho biết không có khâu nào trong quá trình sản xuất có thể xem nhẹ. Mỗi công đoạn đều phải được đánh giá mức độ rủi ro và có biện pháp kiểm soát phù hợp về công nghệ, kỹ thuật.

Đặc biệt, nguyên liệu đầu vào cần được kiểm soát theo từng lô, bởi nguồn nguyên liệu có thể đến từ nhiều khu vực khác nhau và chịu những biến động nhất định. Việc kiểm soát theo từng lô giúp doanh nghiệp theo dõi chất lượng và mức độ an toàn trong quá trình sản xuất.

Cùng với đó, việc ứng dụng công nghệ và số hóa dữ liệu đang giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong kiểm soát. Theo ông Minh, trước đây việc xét nghiệm thường phải lấy mẫu và gửi đến các đơn vị có chuyên môn, trong khi hiện nay sự phát triển của công nghệ đã có thêm nhiều hệ thống, thiết bị test nhanh hỗ trợ doanh nghiệp.

“Công nghệ hiện nay phát triển rất nhiều hệ thống máy móc, test nhanh để hỗ trợ doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc kiểm soát” - ông Minh nói.

 

Không chỉ đầu tư máy móc mà phải đầu tư cả con người

Theo ông Nguyễn Văn Minh, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Nông nghiệp B.A.F Việt Nam, chi phí cho an toàn thực phẩm không chỉ nằm ở máy móc, thiết bị mà còn bao gồm đầu tư về con người, quy trình và văn hóa doanh nghiệp.

“Tôi khẳng định là vấn đề đầu tư thì có. Ở đây không chỉ là đầu tư về máy móc, thiết bị mà còn là đầu tư về con người, về văn hóa và toàn bộ các quy trình” - ông Minh nhấn mạnh.

Tuy nhiên, với những doanh nghiệp xác định đầu tư bài bản, xây dựng chuỗi và hướng đến phát triển bền vững, ông cho rằng đây là khoản đầu tư mang lại giá trị lâu dài. B.A.F cũng hướng đến việc kiểm soát chi phí bằng cách giảm các khâu trung gian, tăng tính chủ động trong chuỗi để vừa kiểm soát chất lượng, vừa giúp người tiêu dùng tiếp cận sản phẩm an toàn với mức giá hợp lý. Doanh nghiệp đồng thời hướng đến hợp tác với các đơn vị khác để hình thành các mối liên kết trong chuỗi, cùng xây dựng hệ thống sản xuất, cung ứng thực phẩm an toàn.

“Chúng tôi mong muốn khi xây dựng các hệ thống của mình sẽ cắt giảm được các khâu trung gian, làm sao để sản phẩm đến với người tiêu dùng vừa an toàn, vừa có giá hợp lý. Đồng thời, chúng tôi cũng hợp tác với các đơn vị khác để cùng xây dựng một chuỗi liên kết, cùng phát triển và tạo ra lợi thế liên kết” - ông Minh chia sẻ.

5 nhóm giải pháp để doanh nghiệp làm đúng

TS Phan Hoàng Tuấn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP.HCM, đề xuất TP cần tập trung vào năm nhóm giải pháp để tháo gỡ các điểm nghẽn. Trong đó, trước hết là vốn và lãi suất, có cơ chế vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp đầu tư vào chuỗi thực phẩm an toàn.

Tiếp đó là phổ cập tiêu chuẩn, hỗ trợ doanh nghiệp hiểu đúng, làm đúng các quy định pháp luật, quy chuẩn và tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm. Nhóm giải pháp thứ ba là ưu đãi thuế, có chính sách khuyến khích doanh nghiệp tuân thủ tốt và đầu tư nâng chuẩn. Thứ tư là kiểm nghiệm, chứng nhận, theo hướng đơn giản, nhanh, minh bạch, đồng thời giảm chi phí cho doanh nghiệp. Cuối cùng là truy xuất nguồn gốc, xây dựng hệ thống phổ cập, đồng bộ, thực chất, kiểm soát từ đầu vào đến người tiêu dùng và xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong chuỗi.

Theo ông Tuấn, việc kiểm soát an toàn thực phẩm không thể chỉ tập trung ở khâu cuối cùng mà phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh. Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm với sản phẩm của mình từ nguyên liệu đầu vào cho đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng.

Nhóm phóng viên VPĐD TP.HCM