
Trần Nhân Tông (1258 – 1308), vị hoàng đế thứ ba của triều Trần, là một trong những gương mặt kiệt xuất của lịch sử Đại Việt. Ông hai lần lãnh đạo quân dân đánh bại các cuộc xâm lược của đế quốc Nguyên – Mông, giữ vững nền độc lập dân tộc. Tuy nhiên, tầm vóc của ông không chỉ nằm ở tài thao lược quân sự, mà còn ở tư tưởng nhân văn và tinh thần hòa hiếu.
Sau chiến tranh, thay vì trừng phạt những người từng dao động, ông chủ trương đốt bỏ các tấu biểu xin hàng để củng cố khối đoàn kết nội bộ. Ông thực hiện đại xá, khoan thư sức dân, quan tâm phục hồi đời sống tinh thần bằng việc phong thần cho những anh hùng liệt nữ. Về đối ngoại, Trần Nhân Tông vừa kiên quyết trước mưu đồ xâm lược của nhà Nguyên, vừa mềm dẻo để giữ hòa hiếu lâu dài. Ông còn mở rộng bang giao với Champa, tạo nền tảng ổn định phía Nam.
Khi nhường ngôi, ông xuất gia, sáng lập thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, gắn đạo với đời, đề cao tinh thần “cư trần lạc đạo”. Tư tưởng ấy góp phần hình thành bản sắc Phật giáo Việt Nam – nhập thế, nhân ái và hòa hợp.
Nếu Trần Nhân Tông là biểu tượng của tinh thần nhập thế thì Lê Quý Đôn (1726 – 1784) lại đại diện cho trí tuệ bác học thời phong kiến. Ông để lại khối lượng trước tác đồ sộ trên nhiều lĩnh vực: Sử học, triết học, địa lý, luật pháp, văn hóa dân gian… Tinh thần xuyên suốt trong học thuật của ông là gắn tri thức với thực tiễn và lợi ích của nhân dân.

Lê Quý Đôn nổi tiếng về khả năng tranh biện sắc sảo khi đi sứ sang triều Thanh, bảo vệ danh dự quốc gia trước những cách gọi mang tính miệt thị. Ông cũng sớm tiếp cận các tri thức khoa học phương Tây, thể hiện tư duy cởi mở hiếm có ở một nhà Nho thế kỷ XVIII. Tầm vóc học thuật ấy đã được UNESCO vinh danh nhân kỷ niệm 300 năm ngày sinh của ông (1726 – 2026), khẳng định giá trị vượt thời đại của một trí thức lớn.
Ở thế kỷ XIX, Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888) là ngọn đuốc tinh thần của Nam Bộ trong những năm đầu kháng Pháp. Dù mù lòa, ông vẫn dạy học, bốc thuốc và sáng tác, dùng văn chương làm vũ khí cổ vũ nghĩa khí và lòng yêu nước. Những tác phẩm như “Lục Vân Tiên”, “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” hay “Chạy Tây” đã khắc họa hình tượng người dân bình thường đứng lên vì lẽ phải.

Tư tưởng “nghĩa” trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là sự kết tinh của đạo lý truyền thống và tinh thần dân tộc. Năm 2021, UNESCO đã cùng Việt Nam kỷ niệm 200 năm ngày sinh của ông, ghi nhận những giá trị nhân văn, giáo dục và hòa bình trong di sản văn chương ấy.
Ba danh nhân tuổi Ngọ, ba thời đại khác nhau nhưng cùng chung một điểm: Đặt lợi ích dân tộc và giá trị con người lên trên hết. Họ là minh chứng sống động cho sức mạnh văn hóa Việt Nam – sức mạnh được hun đúc từ trí tuệ, lòng nhân ái và tinh thần độc lập tự cường.
Nam Sơn (t/h)
























