Hệ sinh thái ngầm từ xưởng chui lên không gian mạng
Mô hình vận hành của chuỗi cung ứng mỹ phẩm giả hiện nay đã phát triển thành hệ sinh thái ngầm khép kín với sự phân công chuyên môn hóa cao qua nhiều mắt xích chặt chẽ.
Khởi đầu của chuỗi là các công xưởng sản xuất chui đặt tại vùng ven đô hoặc nông thôn hẻo lánh nhằm né tránh lực lượng chức năng. Tại đây, hóa chất công nghiệp trôi nổi chứa các thành phần độc hại như corticoid, thủy ngân, hydroquinone được pha chế bằng dụng cụ thô sơ để tạo ra các loại kem trộn, kem dưỡng gắn mác nước ngoài. Điển hình là vụ triệt phá xưởng kem trộn quy mô lớn tại Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp hàng cho các đối tượng tại Tây Ninh để bán trực tuyến.

Ngay sau khâu sản xuất thô, các đầu nậu đứng ra đặt in bao bì, vỏ hộp nhái các thương hiệu nổi tiếng của Mỹ, Hàn Quốc, Pháp hoặc Thái Lan. Tinh vi hơn, các đối tượng còn làm giả tem chống hàng giả điện tử và mã QR giả lập để đánh lừa người mua khi quét mã kiểm tra.
Thành phẩm sau đó được tập kết về các kho chứa ngầm quy mô lớn, thường xuyên thay đổi địa điểm hoặc núp bóng cơ sở sản xuất cơ khí, kho nông sản. Điển hình vào tháng 1 năm 2026, lực lượng công an các tỉnh Quảng Trị, Ninh Bình và Hà Nội đã phối hợp triệt phá hệ thống kho chứa ngầm do Nguyễn Văn Chung, Phạm Thị Tuyết và Lê Hữu Minh cầm đầu, thu giữ hơn 25 tấn mỹ phẩm giả cùng lượng lớn tem chống giả điện tử. Cùng thời điểm, Công an Thành phố Hà Nội triệt phá đường dây sản xuất, đóng gói mỹ phẩm nhái các thương hiệu cao cấp tại huyện Hoài Đức, thu giữ hàng vạn sản phẩm kem dưỡng, serum thành phẩm đang chuẩn bị đưa ra thị trường.
Để đưa hàng ra thị trường, các đối tượng sử dụng dịch vụ chuyển phát nhanh và xe tải đường dài, chia nhỏ hàng hóa và khai báo sai tên bưu gửi như đồ gia dụng nhằm qua mặt lực lượng kiểm tra. Khi về các đại lý sỉ, thủ đoạn trộn hàng thật với hàng giả theo tỷ lệ nhất định được áp dụng nhằm tạo vỏ bọc an toàn.
Mắt xích tạo doanh số đột biến chính là các phiên livestream trên TikTok Shop, Shopee và Facebook. Tại Tây Ninh, các đối tượng bị khởi tố đã tổ chức livestream chốt trót lọt hơn 100.000 đơn hàng kem trộn giả mạo thương hiệu ngoại. Tương tự, vụ án buôn bán mỹ phẩm giả do Công an tỉnh Quảng Ninh khởi tố vào tháng 1 năm 2026 đối với Lê Thị Phương Liên cũng cho thấy việc triệt để lợi dụng không gian mạng để tuồn hàng giả đến tay người tiêu dùng.
Cấu trúc chi phí siêu rẻ và bài toán siêu lợi nhuận
Các đường dây hàng giả hoạt động dựa trên cơ cấu chi phí tối thiểu do không phải chịu thuế, chi phí nghiên cứu phát triển hay kiểm định chất lượng.
Một hũ kem dưỡng da giả 250g mô phỏng thương hiệu cao cấp có giá niêm yết chính hãng khoảng 1.200.000 đồng chỉ tốn từ 8.000 đến 14.000 đồng chi phí sản xuất thực tế. Trong đó, tiền nguyên liệu hóa chất thô chiếm từ 3.000 đến 7.000 đồng, chi phí vỏ hộp và tem nhãn giả từ 3.000 đến 5.000 đồng, còn lại là chi phí đóng gói thủ công.
Sự gia tăng giá trị phi pháp được đẩy lên cao qua từng khâu phân phối. Cơ sở sản xuất chui bán ra cho đầu nậu với giá 20.000 đồng. Sau khi hoàn thiện bao bì và tem giả, đầu nậu chuyển cho kho sỉ với giá 60.000 đồng. Kho sỉ tiếp tục giao cho các kênh bán lẻ trực tuyến với mức 120.000 đồng. Cuối cùng, sản phẩm được bán đến tay người tiêu dùng ở mức 350.000 đồng thông qua các phiên livestream.
Mức nâng giá từ giá vốn ban đầu 10.000 đồng lên giá bán lẻ 350.000 đồng tương đương mức tăng 3.500%, mang lại tỷ suất lợi nhuận gộp khổng lồ. Lợi nhuận ròng lớn nhất chảy về túi hai nhóm đối tượng gồm đầu nậu tổng nhờ quy mô hàng chục tấn hàng và các chủ kênh livestream bán lẻ nhờ mức chênh lệch giá bán lẻ rất cao.
So sánh quy mô dòng tiền giữa các vụ án cho thấy mức độ siêu lợi nhuận của ngành kinh tế ngầm này như ở quy mô cá nhân kinh doanh trực tuyến như vụ án tại Tây Ninh, chỉ thông qua việc livestream chốt hơn 100.000 đơn hàng kem trộn tự chế, các đối tượng đã thu lợi bất chính hơn 10 tỷ đồng trong thời gian ngắn.
Ở quy mô đường dây liên tỉnh như chuyên án 25 tấn mỹ phẩm tại Hà Nội và Ninh Bình, doanh số tiêu thụ ước tính lên tới hàng chục tỷ đồng mỗi quý do lượng hàng xuất kho liên tục tính bằng tấn.
Đặc biệt, ở quy mô doanh nghiệp núp bóng chuỗi làm đẹp hoặc thương hiệu mỹ phẩm tự công bố như các vụ việc vi phạm lớn thời gian qua, doanh thu phi pháp có thể chạm ngưỡng hàng trăm tỷ đồng. Khi một sản phẩm kem dưỡng có giá vốn sản xuất chưa tới 20.000 đồng nhưng được quảng bá dưới mác công nghệ nước ngoài hoặc độc quyền từ các viện thẩm mỹ danh tiếng, giá bán ra có thể đội lên từ 800.000 đến 1.500.000 đồng một hộp. Tỷ suất lợi nhuận ròng ở mức hàng chục lần giúp các chủ cơ sở thu về nguồn tiền mặt khổng lồ, vượt xa mọi ngành kinh doanh sản xuất hợp pháp.

Sự tồn tại dai dẳng của hệ sinh thái này bắt nguồn từ sự chênh lệch quá lớn giữa lợi nhuận phi pháp hàng chục, hàng trăm tỷ đồng và mức xử phạt hiện hành. Bên cạnh đó, các đối tượng sử dụng công ty ma, tài khoản ngân hàng thuê mượn và phương thức giao hàng thu tiền tận nơi COD để xóa dấu vết tài chính. Quy trình kiểm duyệt gian hàng lỏng lẻo của các sàn thương mại điện tử cùng sự thiếu trách nhiệm kiểm tra bưu gửi từ các đơn vị vận chuyển đã vô tình tạo ra hành lang phân phối an toàn cho hàng giả.
Bịt kín các điểm thắt nút để vô hiệu hóa chuỗi cung ứng
Việc kiểm tra xử lý riêng lẻ từng điểm bán lẻ chỉ giải quyết được phần ngọn. Muốn bẻ gãy toàn bộ đường dây, cơ quan quản lý cần can thiệp đồng bộ vào ba điểm thắt nút then chốt.
Thứ nhất, kiểm soát chặt chẽ khâu in ấn bao bì và nguồn hóa chất công nghiệp. Cần quy định bắt buộc các nhà in phải xác minh quyền sở hữu trí tuệ và giấy chứng nhận nhãn hiệu trước khi in vỏ hộp mỹ phẩm, đồng thời xử lý hình sự các chủ xưởng in cố tình làm giả tem nhãn với vai trò đồng phạm. Song song đó, các cơ quan chức năng cần thiết lập hệ thống định danh, truy xuất nguồn gốc các loại hóa chất có nguy cơ bị lạm dụng trong pha chế mỹ phẩm.
Thứ hai, ràng buộc trách nhiệm pháp lý liên đới của sàn thương mại điện tử và các doanh nghiệp vận tải logistics. Các sàn kinh doanh trực tuyến phải xác thực định danh điện tử toàn bộ người bán thông qua cơ sở dữ liệu dân cư và chịu chế tài tài chính nặng nếu để tái diễn việc phân phối hàng giả. Đối với doanh nghiệp chuyển phát, cần bắt buộc tích hợp dữ liệu vận đơn với hệ thống hóa đơn điện tử, kiên quyết từ chối các đơn hàng COD không có hóa đơn chứng minh nguồn gốc xuất xứ.
Thứ ba, siết chặt quản lý dòng tiền để triệt tiêu động lực kinh tế của tội phạm. Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan điều tra cần tăng cường giám sát dữ liệu tài khoản cá nhân có dấu hiệu thu hộ tiền COD bất thường với tần suất lớn. Việc áp dụng cơ chế kịp thời phong tỏa tài khoản nghi vấn, truy thu thuế và xử phạt nghiêm khắc sẽ đánh trực tiếp vào nguồn tài chính của các đầu nậu.
Cuộc chiến chống mỹ phẩm giả trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi sự thay đổi căn bản trong tư duy quản lý, tập trung bẻ gãy chuỗi giá trị phi pháp tại các điểm thắt nút chiến lược nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng và giữ vững kỷ cương thị trường.
Tâm An























