Trong dự thảo nghị định đang lấy ý kiến, Bộ Nội vụ đề xuất tiêu chí quy mô số hộ gia đình đối với thôn, tổ dân phố theo từng vùng, miền để căn cứ cho các địa phương thực hiện sắp xếp, tổ chức lại
Trong dự thảo nghị định đang lấy ý kiến, Bộ Nội vụ đề xuất tiêu chí quy mô số hộ gia đình đối với thôn, tổ dân phố theo từng vùng, miền để căn cứ cho các địa phương thực hiện sắp xếp, tổ chức lại

Về mặt khái niệm, dự thảo quy định các tên gọi đặc thù theo phong tục địa phương như làng, ấp, bản, buôn, bon, phun, sóc đều được gọi chung là thôn. Các tên gọi như khu phố, khối phố, khóm, tiểu khu được thống nhất quy đổi thành tổ dân phố. Đây là những tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư có chung địa bàn cư trú, đóng vai trò là nơi thực hiện dân chủ trực tiếp nhằm phát huy tính tự quản và tổ chức cho nhân dân thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước dưới sự điều hành của chính quyền cấp xã.

Dựa trên việc đánh giá mức độ tập trung dân cư và yêu cầu quản lý thực tế sau khi sáp nhập các đơn vị hành chính, cơ quan soạn thảo đề xuất khung quy mô số hộ gia đình tối thiểu rất chi tiết. Tại hai đô thị lớn có mật độ dân cư đặc biệt cao là Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, một thôn phải có từ 500 hộ trở lên và tổ dân phố phải đạt từ 700 hộ trở lên. Ngược lại, khu vực Trung du và Miền núi phía Bắc do đặc thù địa hình chia cắt nên quy chuẩn hạ thấp hơn, chỉ yêu cầu từ 150 hộ trở lên đối với thôn và từ 300 hộ trở lên đối với tổ dân phố.

Đối với các vùng Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, mức sàn quy định thống nhất là từ 400 hộ trở lên cho thôn và từ 550 hộ trở lên cho tổ dân phố. Vùng Bắc Trung bộ có quy chuẩn riêng với mức quy định từ 350 hộ đối với thôn và từ 450 hộ đối với tổ dân phố. Khu vực Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên yêu cầu quy mô từ 350 hộ đối với thôn và từ 500 hộ đối với tổ dân phố, tuy nhiên ba tỉnh Gia Lai, Lâm Đồng và Đắk Lắk được áp dụng cơ chế riêng với mức giảm xuống còn từ 300 hộ trở lên cho thôn và từ 450 hộ trở lên cho tổ dân phố.

Quy định cũng mở ra không gian linh hoạt cho các địa bàn biên giới, hải đảo cách xa đất liền hoặc những khu vực cần di dân để bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo. Tại những vùng có yếu tố đặc thù này, quy mô số hộ có thể thấp hơn mức sàn chung, giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định chi tiết để phù hợp với thực địa. Đồng thời, các thôn và tổ dân phố sau khi sắp xếp bắt buộc phải bảo đảm hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội thiết yếu để phục vụ sinh hoạt cộng đồng và ổn định đời sống nhân dân.

Về quy trình thực hiện, dự thảo phân định rõ các bước chuyển dịch hồ sơ từ cấp cơ sở. Đầu tiên, Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm xây dựng đề án thành lập, tổ chức lấy ý kiến người dân bằng các hình thức phù hợp theo luật định về thực hiện dân chủ ở cơ sở. Sau khi tổng hợp, giải trình và tiếp thu đầy đủ các ý kiến đóng góp, Ủy ban nhân dân xã lập báo cáo hoàn thiện hồ sơ trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét tại kỳ họp gần nhất để ban hành Nghị quyết thông qua.

Hồ sơ thành lập chuẩn quy chuẩn bắt buộc phải bao gồm tờ trình, bản đề án, báo cáo tổng hợp ý kiến nhân dân và dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã. Đối với những địa bàn đặc thù không tổ chức cấp chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân đặc khu hoặc Ủy ban nhân dân xã sẽ là cơ quan trực tiếp xây dựng hồ sơ và ra quyết định thành lập nhằm bảo đảm tính liên tục trong công tác quản lý nhà nước.

Tâm An