Giá cao su trong nước: Kết thúc tuần giao dịch tăng tại Công ty Cao su Bà Rịa

Tại Công ty Cao su Mang Yang: 

Giá thu mua mủ nước: 

Loại 1 ở mức 384 đồng/độ/TSC/kg; Loại 2 ở mức 379 đồng/độ/TSC/kg.

Mủ đông tạp: 

Loại 1 ở mức 393 đồng/DRC/kg; Loại 2 ở mức 345 đồng/DRC/kg.

Giá cao su hôm nay 18/1: Kết thúc tuần giao dịch biến động nhẹ, xu hướng giảm vào cuối tuần
Giá cao su hôm nay 18/1: Kết thúc tuần giao dịch biến động nhẹ, xu hướng giảm vào cuối tuần (Ảnh: internet)

Công ty Cao su Phú Riềng.

Giá mủ nước ở mức 420 đồng/độ/TSC/kg; giá mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC/kg.

Công ty Cao su Bà Rịa: Giá thu mua mủ nguyên liệu tại nhà máy Xà Bang hôm nay:

Giá mủ nước: 

Mức 1 có giá 425 đồng/độ/ TSC/kg  áp dụng cho độ TSC từ 30 trở lên

Mức 2 có giá 420 đồng/độ/ TSC/kg áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30

Mức 3 có giá 415 đồng/độ/ TSC/kg  áp dụng cho độ TSC từ 20 đến dưới 25

Nếu chất lượng mủ không đạt tiêu chuẩn trên thì:

+ Độ TSC dưới 20 nguyên nhân bị mưa chụp, sẽ thu mua với giá thấp hơn 10 đông/độ TSC so với mức 3.

+ Khi 9,0 < pH ≤ 9,8 mua theo công thức trừ lũy tiến: Cụ thể tăng 0,1 độ pH thì giảm 1 đồng/TSC áp dụng theo đơn giá mủ mức 2. Ví dụ: Khi pH =9,1 thì giá thu mua giảm 1 đồng/TSC so mức 2; Khi pH =9,2 thì giá thu mua giảm 2 đồng/TSC so mức 2.

+ Khi pH >9,8 hoặc mủ thử nghiệm phát hiện chất độn, chất bảo quản không phải NH3 thì thu mua bằng 80% mủ mức 1.

Giá mủ tạp:

Mủ chén, mủ đông có độ DRC ≥ 50% ở mức 19.500 đồng/kg.

Mủ chén, mủ đông có độ DRC từ 45 ≤ DRC < 50% ở mức 18.100 đồng/kg.

Mủ đông có độ DRC từ 35 ≤ DRC <  45% ở mức 14.600 đồng/kg

DRC dưới 35% công ty không thu mua.

Công ty cao su Bình Long:

Giá thu mua mủ nước tại nhà máy ở mức 432 đồng/ độ/TSC/kg.

Giá thu mua mủ nước tại đội sản xuất ở mức 422 đồng/ độ/TSC/kg.

 Giá thu mua mủ tạp có độ DRC=60% có giá 14.000 đồng/kg.

Giá cao su thế giới: Kết thúc tuần giao dịch biến động trái chiều

Giá cao su trên các sàn giao dịch châu Á tuần qua ghi nhận xu hướng tăng nhẹ ở đầu tuần (ngày 12-14/1) nhờ lực hỗ trợ từ nhu cầu châu Á và kỳ vọng phục hồi sản xuất, nhưng chuyển sang giảm từ ngày 15/1 trở đi do tâm lý thận trọng trước diễn biến kinh tế toàn cầu.

Sàn Tocom (Tokyo, RSS3):

Giá ổn định ở đầu tuần nhưng tăng dần đến giữa tuần trước khi giảm nhẹ cuối tuần. Hợp đồng tháng 3/2026 khởi đầu ở 346 JPY/kg (ngày 12/1), ổn định ở 346 JPY/kg (13/1), tăng lên 348 JPY/kg (14/1, +0,58%), duy trì 348 JPY/kg (15/1), tăng nhẹ lên 348,3 JPY/kg (16/1, +0,09%), rồi giảm xuống 347,5 JPY/kg (17/1, -0,22%).

Tương tự, hợp đồng tháng 4/2026 dao động từ 343,8 JPY/kg lên 349,8 JPY/kg giữa tuần rồi giảm về 347,1 JPY/kg. Tổng biến động tuần: Tăng khoảng 0,4-1,7% ở đầu tuần, nhưng kết thúc giảm nhẹ 0,2-0,4%. Xu hướng cho thấy lực mua dè dặt, với biên độ hẹp phản ánh thị trường đang dò tìm điểm cân bằng.

Sàn SHFE (Thượng Hải, cao su tự nhiên):

 Đà tăng chiếm ưu thế đầu tuần nhưng phân hóa và giảm mạnh hơn vào cuối tuần. Hợp đồng tháng 3/2026 bắt đầu ở 15.960 CNY/tấn (12/1, +0,28%), tăng lên 15.945 CNY/tấn (13/1, +0,19% so với trước), tiếp tục tăng nhẹ lên 16.020 CNY/tấn (14/1, +0,47%), nhưng giảm về 16.090 CNY/tấn (15/1, -0,65%), xuống 15.910 CNY/tấn (16/1, -0,31%), và 15.745 CNY/tấn (17/1, -0,88%).

Hợp đồng tháng 5/2026 tương tự, tăng từ 16.020 CNY/tấn lên cao điểm 16.145 CNY/tấn rồi giảm về 15.715 CNY/tấn. Tổng biến động: Tăng 0,1-0,8% đầu tuần, nhưng giảm tích lũy 0,3-1% cuối tuần, phản ánh sự thận trọng tại Trung Quốc – thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới.

Sàn SGX (Singapore, TSR20):

Tăng nhẹ đầu tuần nhưng giảm rõ rệt hơn vào cuối. Hợp đồng tháng 3/2026 khởi điểm 183,8 Cent/kg (12/1, +0,16%), tăng lên 185 Cent/kg (13/1, +0,82%), giảm nhẹ về 183,2 Cent/kg (14/1, -0,96%), tăng lại lên 185,3 Cent/kg (15/1, +1,15%), rồi giảm mạnh về 182,7 Cent/kg (16/1, -1,39%) và 181,2 Cent/kg (17/1, -0,81%).

Hợp đồng tháng 4/2026 dao động từ 183,8 Cent/kg lên 185,6 Cent/kg giữa tuần rồi giảm về 181,5 Cent/kg. Tổng biến động: Tăng 0,1-1,3% đầu tuần, nhưng giảm 0,8-1,4% cuối tuần, cho thấy áp lực điều chỉnh ngắn hạn mạnh hơn so với hai sàn kia.

Giá cao su thế giới tuần qua biến động trong biên độ hẹp (khoảng 0,5-1,5%), với xu hướng giảm ngày thứ hai liên tiếp vào cuối tuần (16-17/1) trên cả ba sàn, phản ánh lực mua yếu và lo ngại về nhu cầu công nghiệp chậm phục hồi. Mặc dù có hỗ trợ từ châu Á ở đầu tuần, thị trường vẫn chịu áp lực từ nguồn cung ổn định và biến động tiền tệ (như JPY và CNY). Trong ngắn hạn, giá có thể tiếp tục dao động hẹp, phụ thuộc vào dữ liệu kinh tế Trung Quốc và nhu cầu lốp xe toàn cầu.

Lê Thanh(t/h)