Gạo nguyên liệu xuất khẩu giảm nhẹ

Giá lúa gạo hôm nay 30/8 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục duy trì trạng thái trầm lắng. Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, một số loại gạo nguyên liệu xuất khẩu giảm 50 đồng/kg.

Cụ thể, gạo nguyên liệu IR 504 giảm 50 đồng/kg, xuống mức 8.900-8.950 đồng/kg. Gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 cũng giảm 50 đồng/kg, dao động 8.900-8.950 đồng/kg.

Trong khi đó, gạo nguyên liệu OM 5451 giữ mức 9.300-9.400 đồng/kg; OM 18 ở 8.700-8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động 9.200-9.400 đồng/kg.

Các loại gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 và Sóc thơm cùng duy trì mức 7.500-7.600 đồng/kg.

Đối với phụ phẩm, giá dao động khoảng 7.450-8.750 đồng/kg. Trong đó, tấm thơm giảm 50 đồng/kg, còn 8.600-8.700 đồng/kg; cám giữ mức 7.500-7.600 đồng/kg.

Giá gạo bán lẻ gần như đứng yên

Tại các chợ bán lẻ, giá gạo hôm nay không ghi nhận biến động đáng kể.

Gạo Nàng Nhen tiếp tục có giá cao nhất, ở mức 28.000 đồng/kg. Gạo Hương Lài đứng ở 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000-22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mức 21.000 đồng/kg.

Gạo thơm Jasmine được bán với giá khoảng 16.500-18.000 đồng/kg, gạo Đài thơm 15.500-16.500 đồng/kg và gạo trắng thông dụng khoảng 16.000 đồng/kg.

Trong khi đó, gạo thường dao động 13.500-15.500 đồng/kg, gạo Sóc thường 14.000-15.000 đồng/kg. Gạo Sóc Thái có giá 20.000 đồng/kg, gạo Nhật 22.000 đồng/kg và gạo OM 18 khoảng 15.500-16.500 đồng/kg.

Nhìn chung, thị trường bán lẻ đang khá ổn định, chưa xuất hiện biến động lớn về giá.

Thị trường lúa tươi chững lại

Trên thị trường lúa, giá thu mua tại các địa phương thuộc Đồng bằng sông Cửu Long cũng ít thay đổi khi nhu cầu mua mới của thương lái khá thấp.

Lúa tươi OM 34 hiện dao động 5.900-6.000 đồng/kg. Lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 cùng quanh mức 6.600-6.700 đồng/kg.

Ảnh minh họa, nguồn Internet

Lúa tươi OM 5451 có giá khoảng 6.500-6.600 đồng/kg, trong khi IR 50404 dao động 6.300-6.400 đồng/kg.

Tại An Giang, thương lái hỏi mua mới ít, giá lúa tươi không có nhiều thay đổi. Tình trạng tương tự được ghi nhận tại Đồng Tháp, Tây Ninh, Cần Thơ, Cà Mau và Vĩnh Long khi lượng bạn hàng mua mới khá hạn chế.

Diễn biến này cho thấy thị trường lúa gạo nội địa đang bước vào giai đoạn giao dịch chậm, với giá lúa chủ yếu đi ngang và giá gạo nguyên liệu chỉ điều chỉnh nhẹ.

Gạo xuất khẩu Việt Nam giữ giá

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam hôm nay tiếp tục đi ngang so với phiên trước.

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm được chào bán ở mức 470-480 USD/tấn. Gạo thơm 100% tấm dao động 373-377 USD/tấn, trong khi gạo Jasmine có giá 534-538 USD/tấn.

Trong bối cảnh giá nội địa tương đối ổn định, hoạt động xuất khẩu vẫn là yếu tố quan trọng đối với diễn biến thị trường lúa gạo trong những tháng cuối năm.

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, xuất khẩu gạo của Việt Nam trong 8 tháng năm 2026 ước đạt 6,03 triệu tấn, với giá xuất khẩu bình quân khoảng 481,5 USD/tấn. Tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt gần 2,91 tỷ USD.

Giá gạo Việt Nam cao hơn một số đối thủ

Trên thị trường thế giới, giá gạo giữa các nước xuất khẩu lớn tiếp tục có sự chênh lệch.

Tại Thái Lan, gạo 5% tấm dao động 453-457 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm ở mức 366-370 USD/tấn.

Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm được chào bán khoảng 364-368 USD/tấn và gạo 100% tấm dao động 304-308 USD/tấn.

So với Thái Lan và Ấn Độ, một số phân khúc gạo xuất khẩu của Việt Nam đang duy trì mức giá cao hơn, phản ánh lợi thế ở nhóm gạo thơm và các sản phẩm có chất lượng, giá trị gia tăng tốt hơn.

Trong ngắn hạn, thị trường lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long nhiều khả năng tiếp tục chịu ảnh hưởng bởi sức mua của thương lái, nguồn cung nguyên liệu và diễn biến đơn hàng xuất khẩu. Giá gạo nguyên liệu đã xuất hiện điều chỉnh giảm nhẹ, trong khi giá lúa và gạo bán lẻ vẫn tương đối ổn định, cho thấy thị trường chưa có biến động lớn.

Phúc Hưng