Quặng sắt Đại Liên giảm phiên thứ ba khi các nhà máy vẫn trong thời gian bảo trì.
Quặng sắt Đại Liên giảm phiên thứ ba khi các nhà máy vẫn trong thời gian bảo trì.

Giá thép thế giới

Khép lại phiên giao dịch ngày 28/7, giá thép thanh giao tháng 8/2026 trên Sàn Giao dịch Thượng Hải (SHFE) giảm 8 nhân dân tệ, tương đương 0,26%, xuống 3.043 nhân dân tệ/tấn. Trên Sàn Đại Liên (DCE), giá quặng sắt giao tháng 8 cũng giảm 3 nhân dân tệ (0,41%) còn 736,5 nhân dân tệ/tấn. Trong khi đó, giá quặng sắt giao tháng 8 trên Sàn Singapore (SGX) nhích thêm 0,07 USD (0,07%), lên 97,90 USD/tấn.

Giá quặng sắt kỳ hạn giảm về quanh 740 nhân dân tệ/tấn, dao động gần mức thấp nhất trong ba tuần do áp lực từ nguồn cung toàn cầu dồi dào, theo Trading Economics.

Tại Trung Quốc, tồn kho quặng sắt nhập khẩu tại các cảng vẫn ở mức cao, trong khi lượng dự trữ tại các nhà máy thép tăng 8% trong tuần trước. Ở chiều ngược lại, thị trường đang chờ kết quả cuộc họp Bộ Chính trị Trung Quốc để tìm tín hiệu về các gói kích thích kinh tế mới.

Về nguồn cung, cụm cảng Pilbara (Tây Australia) - trung tâm xuất khẩu quặng sắt lớn nhất thế giới - đã xử lý hơn 800 triệu tấn hàng hóa trong năm tài chính 2025 - 2026, vượt mức kỷ lục của năm trước. Riêng xuất khẩu quặng sắt đạt khoảng 759,4 triệu tấn, trong đó cảng Port Hedland và Dampier lần lượt xử lý 580,4 triệu tấn và 178,3 triệu tấn.

Ở thị trường thép Trung Quốc, Hiệp hội Sắt Thép Trung Quốc (CISA) cho biết tồn kho 5 mặt hàng thép thành phẩm chủ lực tại 21 thành phố lớn đạt 9,62 triệu tấn tính đến ngày 20/7, giảm 0,7% so với 10 ngày trước. Trong đó, HRC tăng 0,4%, còn CRC giảm 2,8%, thép tấm giảm 1,8%, thép cuộn giảm 1,2% và thép thanh giảm 0,2%.

Các nhà máy thép tiếp tục cắt giảm sản lượng do biên lợi nhuận âm, khi chi phí sản xuất vẫn cao hơn giá bán. Theo Tổng cục Thống kê Trung Quốc (NBS), sản lượng thép thô tại 10 khu vực sản xuất lớn nhất giảm 2,6% trong nửa đầu năm 2026. Triển vọng thị trường nửa cuối năm được đánh giá vẫn kém khả quan khi nhu cầu từ lĩnh vực bất động sản chưa có dấu hiệu cải thiện.

Giới phân tích nhận định, thị trường thép Trung Quốc vẫn đối mặt với áp lực từ nhu cầu hạ nguồn yếu, tồn kho lớn và yếu tố mùa vụ như nắng nóng, mưa lớn. Trong bối cảnh giá thép thành phẩm ở mức thấp, nhiều doanh nghiệp buộc phải kéo dài thời gian bảo trì hoặc cắt giảm sản lượng để hạn chế dư cung.

Diễn biến giá thép thời gian tới sẽ phụ thuộc đáng kể vào tốc độ điều chỉnh sản lượng của các nhà máy. Nếu sản xuất phục hồi quá sớm khi nhu cầu chưa cải thiện, nguy cơ dư cung sẽ quay trở lại và tiếp tục gây áp lực lên giá. Bên cạnh đó, xuất khẩu vẫn là đầu ra quan trọng, song các rào cản thương mại và bất ổn kinh tế toàn cầu vẫn là những yếu tố rủi ro.

Giá thép xây dựng trong nước

Thị trường thép xây dựng trong nước tiếp tục ổn định. Hòa Phát giữ giá thép CB240 và D10 CB300 ở mức 15.120 đồng/kg. Thép Việt Ý miền Bắc niêm yết CB240 ở mức 14.850 đồng/kg, trong khi Thép Việt Đức miền Bắc báo giá CB240 và D10 CB300 cùng ở mức 14.750 đồng/kg.

Đối với các doanh nghiệp khác, thép VJS miền Bắc giữ giá CB240 ở mức 14.850 đồng/kg và D10 CB300 ở mức 14.750 đồng/kg. Thép Thái Nguyên niêm yết CB240 ở mức 14.990 đồng/kg và D10 CB300 ở mức 14.890 đồng/kg.

Hà Trần (t/h)