
Giá thép thế giới
Khép lại phiên giao dịch ngày 8/7, giá thép và quặng sắt kỳ hạn đồng loạt tăng nhẹ nhờ kỳ vọng nhu cầu tại Trung Quốc cải thiện.
Cụ thể, trên Sàn Giao dịch Thượng Hải (SHFE), giá thép thanh giao tháng 8/2026 tăng 8 nhân dân tệ, tương đương 0,26%, lên 3.059 nhân dân tệ/tấn.
Trong khi đó, trên Sàn Giao dịch Đại Liên (DCE), giá quặng sắt kỳ hạn tháng 8 tăng 3 nhân dân tệ, tương ứng 0,4%, lên 746 nhân dân tệ/tấn. Còn trên Sàn Giao dịch Singapore (SGX), giá quặng sắt cùng kỳ hạn tăng 1,34 USD, tương đương 1,37%, lên 99,2 USD/tấn.
Theo BigMint, Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS) đã điều chỉnh giảm khoảng 40 USD/tấn đối với thép cuộn cán nóng (HRC) bán tại thị trường nội địa cho các lô hàng giao trong tháng 8–9. Sau đợt điều chỉnh, giá HRC SAE1006 của doanh nghiệp này tại TP.HCM còn khoảng 545 USD/tấn.
Động thái trên diễn ra trong bối cảnh thị trường HRC trong nước vẫn trầm lắng khi nhu cầu tiêu thụ ở mức thấp. Phần lớn khách hàng duy trì tâm lý chờ đợi trước khi các nhà sản xuất lớn công bố bảng giá mới, khiến hoạt động giao dịch diễn ra chậm.
Ngoài ra, đà giảm của giá HRC nhập khẩu tại khu vực Đông Nam Á cũng tạo thêm áp lực lên thị trường nội địa, buộc các doanh nghiệp sản xuất phải cân nhắc điều chỉnh giá để duy trì sức cạnh tranh.
BigMint dự báo thị trường HRC Việt Nam sẽ tiếp tục đối mặt với sức ép trong ngắn hạn khi lượng giao dịch còn hạn chế và giá chào nhập khẩu vẫn là yếu tố dẫn dắt mặt bằng giá. Nếu nhu cầu từ các lĩnh vực sản xuất và xây dựng chưa cải thiện rõ rệt, giá HRC nhiều khả năng sẽ tiếp tục xu hướng đi xuống.
Trước đó, đầu tháng 7, Tập đoàn Hòa Phát cũng đã giảm 34 USD/tấn đối với giá thép cuộn cán nóng bán trong nước áp dụng cho các lô hàng giao tháng 8 so với tháng trước.
Ở quy mô toàn cầu, theo GMK Center, thị trường HRC có diễn biến phân hóa trong tháng 5. Giá chào bán bình quân tại châu Âu giảm 2–4%, trong khi tại Trung Quốc và Mỹ tăng nhẹ khoảng 3–4%.
Giá thép xây dựng trong nước
Thị trường thép xây dựng trong nước tiếp tục ổn định. Hiện Hòa Phát niêm yết giá thép CB240 và D10 CB300 ở mức 15.120 đồng/kg.
Tại khu vực miền Bắc, Thép Việt Ý giữ giá CB240 ở mức 14.850 đồng/kg; Thép Việt Đức niêm yết cả CB240 và D10 CB300 ở mức 14.750 đồng/kg.
Trong khi đó, Thép VJS báo giá CB240 và D10 CB300 lần lượt ở mức 14.850 đồng/kg và 14.750 đồng/kg. Thép Thái Nguyên niêm yết CB240 ở mức 14.990 đồng/kg, còn D10 CB300 ở mức 14.890 đồng/kg.
Hà Trần (t/h)






















