Lớp học quá đông: thực trạng kéo dài tại nhiều trường nội thành
Tại nhiều trường công lập ở khu vực nội thành Hà Nội, sĩ số lớp học lên đến 40 – 45 học sinh đã tồn tại trong nhiều năm và không còn là hiện tượng cá biệt. Đặc biệt ở bậc tiểu học – giai đoạn học sinh cần được theo sát từng ngày, lớp học đông đang dần trở thành tình trạng phổ biến.
Trong số các trường tiểu học công lập,Trường Tiểu học Nghĩa Tân có thể xem là một ví dụ cho thấy sĩ số lớp học thường xuyên ở mức cao, có thời điểm tăng lên đáng kể, tạo áp lực cho hoạt động dạy và học.

Bà Vũ Kim Anh, phụ huynh có con theo học tại trường, chia sẻ: “Điều khiến tôi lo lắng không phải là con không theo được chương trình, mà là lớp học quá đông nên giáo viên rất khó theo sát từng học sinh. Với sĩ đông, việc nắm được em nào đang hổng kiến thức, em nào cần hỗ trợ thêm đã là rất khó".
Theo bà Kim Anh, trong điều kiện lớp học đông như vậy, việc dạy và học dễ trở nên đồng loạt, thiếu sự điều chỉnh phù hợp với từng học sinh. Phụ huynh vì thế buộc phải chủ động kèm con ở nhà hoặc cho con học bổ trợ bên ngoài để đảm bảo theo kịp chương trình, kéo theo chi phí và áp lực học tập gia tăng ngay từ bậc tiểu học.
Ở góc nhìn người trong cuộc, cô Nguyễn Thị B, giáo viên tiểu học tại một trường công lập ở khu vực nội thành Hà Nội, cho biết áp lực lớn nhất không nằm ở khối lượng bài giảng mà ở việc không đủ thời gian cho từng học sinh. “Một lớp từ 40 – 45 học sinh thì rất khó theo sát từng em. Giáo viên phải ưu tiên giữ nề nếp và đảm bảo tiến độ chung, còn việc hỗ trợ riêng cho học sinh gặp khó khăn gần như không thể thực hiện thường xuyên”, cô chia sẻ.
Đáng chú ý, lớp học đông đang diễn ra rõ nét ngay ở bậc tiểu học – giai đoạn nền tảng hình thành thói quen học tập và tâm lý học đường. Khi sĩ số quá cao, việc hỗ trợ sớm cho học sinh yếu hoặc phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu rất khó đạt hiệu quả, kéo theo những hệ lụy lâu dài cho chất lượng giáo dục ở các bậc học tiếp theo.
Xây thêm trường nhưng lớp học chưa “thoát đông”
Những năm gần đây, Hà Nội dành nguồn lực lớn để xây dựng, cải tạo và mở rộng hệ thống trường công lập nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng. Tuy nhiên, việc mở rộng này chủ yếu theo hướng tăng thêm chỗ học, chưa đặt trọng tâm vào giảm sĩ số lớp học.
Khi trường mới được đưa vào sử dụng, số lượng học sinh tuyển mới cũng tăng tương ứng, khiến nhiều cơ sở nhanh chóng kín chỗ và áp lực sĩ số hầu như không giảm. Nói cách khác, xây thêm trường trong bối cảnh này đang giải quyết bài toán “có chỗ học” nhiều hơn là “học trong điều kiện tốt hơn”.
Trong bối cảnh chưa có quy định rõ ràng về sĩ số tối đa cho từng cấp học, việc xây thêm trường chủ yếu giúp giải quyết nhu cầu tiếp nhận học sinh, nhưng khó tạo ra chuyển biến thực chất trong việc giảm sĩ số lớp học.
Cách triển khai này cho thấy một điểm nghẽn mang tính cấu trúc: mở rộng trường lớp nhưng thiếu ràng buộc về sĩ số. Khi không đặt ra yêu cầu cụ thể về số học sinh tối đa trong mỗi lớp, việc đầu tư thêm trường rất dễ rơi vào vòng lặp quen thuộc: trường mới mở ra, học sinh dồn vào, lớp học nhanh chóng chật kín như cũ.
Hệ quả cho thấy dù cơ sở vật chất được cải thiện, điều kiện dạy và học trong lớp vẫn không thay đổi đáng kể. Giáo viên tiếp tục phải quản lý lớp đông, học sinh học trong môi trường thiếu sự theo sát cá nhân, còn mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục khó có điều kiện để phát huy hiệu quả.
Khi cải cách dừng lại trước cánh cửa lớp học
Trong nhiều năm qua, ngành giáo dục đã triển khai nhiều chương trình đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá học sinh, hướng tới phát triển năng lực cá nhân. Tuy nhiên, lớp học quá đông đang trở thành rào cản lớn khiến những cải cách này khó đi vào đời sống lớp học.
Một giáo viên trung học cơ sở tại khu vực nội thành Hà Nội cho biết: “Dạy học theo hướng phát huy năng lực học sinh là mục tiêu đúng. Nhưng với lớp học đông, việc tổ chức thảo luận hay theo dõi tiến trình học tập của từng học sinh rất khó đạt hiệu quả".
Khi sĩ số vượt quá khả năng quản lý của giáo viên, các phương pháp dạy học mới dễ bị thu hẹp thành hình thức. Giáo viên buộc phải ưu tiên hoàn thành chương trình và tiến độ chung, thay vì có thời gian quan tâm sâu tới từng học sinh.
Điều này tạo ra một nghịch lý rõ ràng: chủ trương đổi mới giáo dục được thúc đẩy mạnh mẽ, nhưng điều kiện thực tế trong lớp học lại chưa đủ để những đổi mới đó phát huy hiệu quả.
Xây thêm trường là cần thiết, nhưng chưa đủ. Nếu không có định hướng rõ ràng và quyết liệt trong việc kiểm soát và giảm sĩ số lớp học, thì lớp học đông sẽ tiếp tục là nút thắt lớn nhất, làm suy giảm hiệu quả của mọi nỗ lực cải cách. Khi câu hỏi “mỗi lớp nên có bao nhiêu học sinh” chưa được trả lời thỏa đáng, việc mở rộng hệ thống trường lớp vẫn khó tạo ra chuyển biến căn bản trong chất lượng giáo dục công lập.
Minh Thắm

























