Năm 1999, Đô thị cổ Hội An được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa thế giới .
Năm 1999, Đô thị cổ Hội An được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa thế giới .

Ngày 22/10, tại phường Hội An, thành phố Đà Nẵng, hội thảo khoa học “Đô thị thương cảng Hội An và xứ Quảng trong hành trình 555 năm (1471-2026)” được tổ chức theo chương trình do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TP.Đà Nẵng phối hợp với Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế công bố.

Phó Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Thị Anh Thi phát biểu chào mừng hội thảo. Ảnh: Cổng thông tin điện tử TP. Đà Nẵng.
Phó Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Thị Anh Thi phát biểu chào mừng hội thảo. Ảnh: Cổng thông tin điện tử TP. Đà Nẵng.

Phát biểu tại hội thảo, bà Nguyễn Thị Anh Thi, Phó chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng, những thay đổi về địa giới, đơn vị hành chính và thiết chế quản lý qua các thời kỳ không làm mất đi tính liên tục của không gian lịch sử - văn hóa đặc biệt. Ngược lại, quá trình đó góp phần hình thành một xứ Quảng giàu bản sắc, mang tinh thần khai mở, khả năng thích ứng và năng lực giao lưu mạnh mẽ với bên ngoài.

Trong dòng chảy lịch sử ấy, Hội An từng bước hình thành và phát triển thành một đô thị thương cảng quốc tế quan trọng. Đặc biệt, trong các thế kỷ 16 - 18, Hội An trở thành nơi hội tụ, kết nối các hoạt động giao thương, giao lưu và tiếp biến văn hóa trong khu vực và quốc tế. Đây là nền tảng quan trọng làm nên những giá trị nổi bật của Đô thị cổ Hội An, được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới năm 1999.

“Thành phố Đà Nẵng xác định văn hóa và di sản không chỉ là đối tượng cần bảo tồn mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững”, bà Anh Thi nhấn mạnh.

Quang cảnh hội thảo. Ảnh: Cổng thông tin điện tử TP. Đà Nẵng.
Quang cảnh hội thảo. Ảnh: Cổng thông tin điện tử TP. Đà Nẵng.

Trước hội thảo, Ban tổ chức cho biết, đã tuyển chọn 55 tham luận từ gần 100 bài viết, tập trung vào ba nhóm chủ đề: Lịch sử vùng đất và đô thị thương cảng; giao thương quốc tế, giao lưu văn hóa; bảo tồn, phát huy giá trị di sản trong giai đoạn hiện nay. Con số tham luận phản ánh phạm vi nghiên cứu của hội thảo, không đồng nghĩa với số bài đã được trình bày trực tiếp tại sự kiện.

Giữa những hướng nghiên cứu ấy, có một vấn đề đáng suy ngẫm: Khi Hội An bước vào một không gian phát triển rộng hơn của TP.Đà Nẵng, những gì cần bảo vệ không chỉ là hình hài phố cổ mà còn là các mối quan hệ xã hội và hoạt động văn hóa đã tạo nên bản sắc của đô thị.

Thành phố Đà Nẵng xác định văn hóa và di sản không chỉ là đối tượng cần bảo tồn mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững
Thành phố Đà Nẵng xác định văn hóa và di sản không chỉ là đối tượng cần bảo tồn mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững.

Từ mốc 1471 đến lịch sử riêng của thương cảng

Năm 1471, vua Lê Thánh Tông thành lập đạo Thừa tuyên Quảng Nam, đánh dấu sự ra đời của danh xưng Quảng Nam trong hệ thống hành chính Đại Việt. Đây không phải năm khai sinh thương cảng Hội An; vùng đất và đô thị có lịch sử hình thành, biến đổi qua nhiều giai đoạn khác nhau.

Một chi tiết địa giới đáng lưu ý là năm 1604, chúa Nguyễn Hoàng tổ chức lại đơn vị hành chính Thuận - Quảng, tách huyện Điện Bàn khỏi phủ Triệu Phong thuộc Thuận Hóa, lập phủ Điện Bàn và sáp nhập vào Quảng Nam. Nếu bỏ qua sự thay đổi này, người đọc dễ nhầm lẫn giữa phạm vi của đạo Thừa tuyên năm 1471 với không gian Hội An về sau.

Trong những thế kỷ tiếp theo, đặc biệt từ thế kỷ XVI đến XVIII, vị trí gần cửa biển và hệ thống sông Thu Bồn đã góp phần đưa Hội An trở thành đầu mối thương mại quốc tế. Hoạt động giao thương mở ra các cuộc gặp gỡ giữa cư dân bản địa với thương nhân từ nhiều khu vực, để lại dấu ấn trong kiến trúc, sinh hoạt tín ngưỡng, nghề thủ công và nếp sống đô thị.

Tuy nhiên, thương cảng không vận hành chỉ bằng những con phố sát bến sông. Phía sau hoạt động mua bán là nguồn hàng từ miền núi, đồng bằng, các làng nghề; là những tuyến vận chuyển và cộng đồng sản xuất, trao đổi. Nhận diện mối liên hệ đó giúp nhìn Hội An như một mắt xích của lịch sử kinh tế, văn hóa xứ Quảng, chứ không phải một không gian tách biệt.

Năm 1999, Đô thị cổ Hội An được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (ii) và (v). Giá trị nổi bật của đô thị nằm ở sự giao thoa văn hóa qua hoạt động thương mại quốc tế và tính tiêu biểu của một thương cảng truyền thống châu Á được bảo tồn. Hồ sơ UNESCO cũng nhấn mạnh sự tiếp nối của đời sống cư dân và các thực hành văn hóa tại đây.

Hội An như một mắt xích của lịch sử kinh tế, văn hóa xứ Quảng, chứ không phải một không gian tách biệt.
Hội An như một mắt xích của lịch sử kinh tế, văn hóa xứ Quảng, chứ không phải một không gian tách biệt.

Bảo tồn phải được đo bằng sức sống của cộng đồng

Sau khi tỉnh Quảng Nam và TP.Đà Nẵng hợp nhất, việc liên kết các điểm đến, làng nghề và không gian sinh thái trong cùng một địa bàn quản lý mở ra thêm khả năng phát triển văn hóa, du lịch. Nhưng không gian quản lý rộng hơn không tự động đồng nghĩa với hiệu quả bảo tồn tốt hơn. Điều quan trọng là các giá trị được xác định rõ, trách nhiệm bảo vệ được phân công và lợi ích từ khai thác được tính toán bền vững.

Trong một đô thị có người sinh sống như Hội An, những thay đổi về mục đích sử dụng nhà, chi phí duy trì nghề truyền thống hoặc điều kiện sinh hoạt của cư dân đều có thể tác động đến chất lượng di sản. Vì thế, đánh giá công tác bảo tồn cần nhìn vào cả những yếu tố khó đo bằng mắt thường: Cộng đồng còn gắn bó đến đâu, nghề còn được truyền dạy thế nào và hoạt động văn hóa có tiếp tục diễn ra trong đời sống hằng ngày hay không.

Có thể đặt ra ba nhóm chỉ dấu để cơ quan quản lý và Nhà nghiên cứu theo dõi. Trước hết là sự ổn định của cộng đồng cư dân cùng điều kiện duy trì hoạt động nghề nghiệp trong khu vực di sản. Tiếp đến là khả năng tái đầu tư nguồn thu từ du lịch cho tu bổ, môi trường và sinh kế. Cuối cùng là mức độ phù hợp giữa hoạt động du lịch với khả năng tiếp nhận của hạ tầng, không gian công cộng và cảnh quan.

Đó là những câu hỏi phân tích cần có dữ liệu để trả lời, không phải những kết luận đã được hội thảo ngày 22/10 thông qua. Chính sự phân biệt này cần được giữ rõ khi chuyển các gợi mở học thuật thành kiến nghị chính sách.

Trong hồ sơ quản lý di sản, UNESCO lưu ý mục tiêu nâng cao điều kiện sống của cư dân địa phương, đồng thời yêu cầu có chiến lược quản lý tác động của du lịch và ứng phó với những rủi ro khí hậu. Các yêu cầu ấy cho thấy bảo tồn phải là quá trình quản trị liên tục, thay vì chỉ diễn ra khi có một dự án trùng tu hoặc một chương trình quảng bá.

Công nghệ số có thể hỗ trợ lập hồ sơ công trình, lưu trữ tư liệu, theo dõi hiện trạng và truyền tải tri thức di sản. Song hiệu quả của các giải pháp này cần được kiểm chứng bằng kết quả cụ thể: Chất lượng dữ liệu, năng lực quản lý, khả năng tiếp cận của công chúng và sự tham gia của cộng đồng. Một kho tư liệu phong phú không thể tự thay thế nghệ nhân hay những sinh hoạt văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Hội thảo 555 năm xứ Quảng vì vậy gợi mở hai công việc song hành: Nghiên cứu lịch sử chính xác theo từng mốc, từng địa giới; và xác lập những tiêu chí khả thi để theo dõi việc bảo tồn trong thực tiễn. Cả hai đều cần thiết để tránh việc sử dụng danh hiệu di sản như một lợi thế quảng bá đơn thuần.

Bởi cuối cùng, giữ được Hội An không chỉ là duy trì những đường phố và công trình đã trở thành biểu tượng. Đó còn là giữ cơ hội để người dân tiếp tục sống với nghề, với ký ức và với văn hóa của mình. Khi đời sống ấy được tôn trọng, di sản mới có nền tảng để bước cùng sự phát triển của TP. Đà Nẵng.

“Thành phố Đà Nẵng xác định văn hóa và di sản không chỉ là đối tượng cần bảo tồn mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững” - bà Nguyễn Thị Anh Thi, Phó chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng.

Hoàng Hữu Quyết – Đình Lương