2015 là năm kết thúc kế hoạch 5 năm phát triền kinh tế - xã hội 2011 - 2015, cũng là năm nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn diện với khu vực và thế giới.

Có thể nói, trong năm 2015, nhiệm vụ của nền kinh tế Việt nam vừa phải vượt qua những thách thức ngắn hạn, vừa phải chuẩn bị các điều kiện để thực hiện các mục tiêu dài hạn - phát triển theo hướng bền vững...

Chưa thoát khỏi sự trì trệ

Từ năm 2008 đến đầu năm 2014, trong suốt 6 năm, kinh tế Việt Nam lâm vào tình trạng bất ổn vĩ mô kéo dài, khiến hầu hết các chính sách và giải pháp kinh tế - tài chính đều mang tính chất tình thế, nhằm khắc phục sự bất ổn kinh tế vĩ mô, mà tập trung nhất là chống lạm phát nên đã làm cho thị trường mất phương hướng dài hạn. Không phủ nhận sự tác động tiêu cực từ thị trường thế giới, nhưng nguyên nhân sâu xa vẫn là sự bất cập của cơ cấu kinh tế và tác động tính 2 mặt của các giải pháp về tài khóa và tiền tệ dẫn đến hệ quả sức mua chung của nền kinh tế suy giảm - tạo nên vòng luẩn quẩn: sức mua giảm - tồn kho tăng - sản xuất giảm - nợ xấu tăng - tín dụng giảm…

Trở lại thời điểm đầu năm 2011, ngay trong năm đầu tiên thực hiện kế hoạch 5 năm 2011 - 2015 và chiến lược 10 năm 2011 - 2020, do nguy cơ tái lạm phát cao và chịu tác động bất lợi của tình hình kinh tế thế giới nên thay vì theo đuổi mục tiêu tăng trưởng, chính sách kinh tế đã chuyển hướng sang mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 11/CP (tháng 3/2011) thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt và chính sách tiền tệ chặt chẽ (nhưng thực chất vẫn là thắt chặt) nhằm giảm tổng cầu kinh tế. Ở thời điểm này, người ta nói nhiều đến vấn đề “hy sinh tăng trưởng để ổn định vĩ mô”, mà “bóng ma” lạm phát cao luôn luôn ám ảnh chi phối các chính sách kinh tế - tài chính.

Tuy từng thời điểm có sự linh hoạt nhất định, nhưng về cơ bản, trong 4 năm (2011 - 2014), chính sách tài khóa và tiền tệ đều nhằm vào mục tiêu kiềm chế lạm phát. Hệ quả tất yếu của các chính sách trên đã làm nền kinh tế tăng trưởng chậm lại: GDP năm 2011 tăng 6,24%; năm 2012: 5,25%; năm 2013: 5,4% và năm 2014 là 5,93% (bình quân tăng 5,7%/năm). Kết quả này khá thấp so với mục tiêu đề ra là 6,5 - 7%/ năm (giai đoạn 2006 - 2010 là 7%/năm).

Những dấu hiệu tích cực

Với hệ quả của các biện pháp giảm tổng cầu - đã tác động kìm hãm sức mua của thị trường và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Số lượng DN ngưng hoạt động, phá sản, giải thể có xu hướng tăng nhanh từ đầu năm 2012 và kéo dài đến hết năm 2014.

Trong suốt 2 năm (2013 - 2014), nền kinh tế đối diện với thách thức: tình hình nợ xấu làm dòng tín dụng bị tắt nghẽn, nền kinh tế không hấp thụ được vốn. Tình trạng thừa tiền thiếu vốn kéo dài. Khả năng tiếp cận vốn của DN vẫn còn khó khăn, nhất là DNNVV; ngân hàng Trung ương nỗ lực kéo giảm lãi suất tiết kiệm tiền gửi và lãi suất cho vay nhiều lần, nhưng vẫn còn khá cao, đặc biệt là lãi suất vay trung - dài hạn, do vậy không kích thích được các DN đang có thị trường mở rộng đầu tư và vẫn là nguy cơ làm tăng nợ xấu đối với những DN đang cố gắng phục hồi sản xuất; những nỗ lực để làm ấm thị trường bất động sản chưa mang lại nhiều kết quả khiến thanh khoản của thị trường này ít được cải thiện.

Trong bối cảnh như vậy, đến thời điểm này có thể nói, những khó khăn nêu trên đã được cải thiện phần nào: GDP năm 2014 tăng 5,93%; lạm phát được kiềm chế; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 150 tỷ USD; xuất siêu gần 2 tỷ USD; hàng tồn kho ngành công nghiệp chế biến chỉ tăng 9,4% so với mức tăng 21,5% cùng kỳ năm 2013; khoảng 15.500 DN tạm ngưng nay đã quay lại hoạt động; thanh khoản ngân hàng thương mại có sự ổn định hơn so với các năm trước; thị trường tài chính, bất động sản tuy chưa khởi sắc, nhưng đang diễn biến theo chiều hướng tích cực... Sự nổi bật là kinh tế vĩ mô ổn định hơn, lạm phát được kiểm soát, lãi suất giảm, tỷ giá ổn định…

2015: Triển vọng và thách thức

Năm 2015 thực hiện Hiến chương ASEAN mở cửa thị trường nội địa; hy vọng kết thúc đàm phán ký kết TPP, thực hiện đầy đủ lộ trình của WTO đã ký kết, các hiệp định thương mại tự do song phương… mở ra nhiều cơ hội cho nền kinh tế nước ta.

Theo dự báo của các tổ chức quốc tế (IMF, OECD, WB,WTO…), kinh tế thế giới năm 2015 về mặt tích cực vẫn nổi trội hơn mặt tiêu cực. Mức tăng trưởng có nhiều thay đổi, nhưng nhìn chung ước khoảng 3,8%. Giá cả thế giới cũng sẽ có xu hướng giảm, đặc biệt giá dầu thô và lương thực sẽ giảm mạnh hơn.

Từ bối cảnh kinh tế quốc tế và trong nước, bên cạnh những nỗ lực của Chính phủ trong việc cải cách thể chế, đẩy mạnh mục tiêu tái cơ cấu 3 lĩnh vực ưu tiên: đầu tư công; hệ thống ngân hàng thương mại và DNNN; các giải pháp điều hành của Chính phủ trong năm 2014, thông qua Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 03/01/2015, đều hướng vào mục tiêu phục hồi khu vực kinh tế trong nước; giải quyết đồng bộ 4 vấn đề: sức mua của thị trường; xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại gắn với chính sách tiền tệ linh hoạt; làm ấm thị trường bất động sản và hỗ trợ sự phục hồi tăng trưởng của 5 lĩnh vực kinh tế ưu tiên trong nước (nông nghiệp, sản xuất hàng xuất khẩu, DNNVV, công nghiệp hỗ trợ và sản phẩm công nghệ cao)… Với những nỗ lực trên, trong năm 2015, có nhiều nhân tố để tin rằng nền kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi dần tốc độ tăng trưởng, niềm tin của thị trường được củng cố và DN có triển vọng để phát triển bền vững hơn.

Để nền kinh tế từ năm 2016 có thể phục hồi tốc độ tăng trưởng của thời kỳ 2001 - 2010, thì các chính sách kinh tế trong năm 2015 phải hướng tới mục tiêu khắc phục 3 vấn đề trung - dài hạn đang đặt ra:

(1) Một nền công nghiệp chủ yếu dựa vào gia công, với lao động rẻ, giá trị gia tăng thấp đã mất sức cạnh tranh khi hội nhập với kinh tế khu vực và toàn cầu. Công nghiệp hỗ trợ - yếu tố then chốt để nâng tỷ trọng nội địa hóa trong cơ cấu giá trị sản phẩm, giảm giá thành - cho đến nay vẫn thiếu chính sách phát triển. Một nền nông nghiệp có nhiều lợi thế, nhưng dựa vào xuất thô với giá trị gia tăng thấp, chưa thực sự đặt vào khuôn khổ cạnh tranh toàn cầu nên không thể cải thiện được thị trường của 70% dân số sống ở nông thôn.

(2) Năng suất tổng hợp (TPF) là chỉ báo quan trọng thể hiện sự sử dụng các yếu tố sản xuất (tài nguyên, nhân lực và vốn) có hiệu quả. Sự giảm tuyệt đối năng suất tổng hợp trong việc đóng góp vào tốc độ tăng trưởng GDP trong 10 năm gần đây; đồng thời tăng nhanh yếu tố vốn - đã lý giải nguyên nhân nền kinh tế kém cạnh tranh và sự tăng trưởng GDP chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư.

(3) Tái cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng đang vướng mắc về mặt tư duy, làm chậm quá trình tái cơ cấu, thể hiện trên 3 mặt: chức năng kinh tế của Nhà nước trong điều kiện vận hành của cơ chế thị trường (sự lẫn lộn giữa nhà nước và thị trường); hạn chế trong việc sử dụng các công cụ điều tiết thị trường của Nhà nước (vai trò dẫn dắt và hỗ trợ thị trường của thể chế kinh tế và hành chính công); sự phân bổ nguồn lực kém hiệu quả (đầu tư công, DNNN, bất động sản…).

Tất cả những điều này đặt vào kỳ vọng những nỗ lực của Chính phủ trong việc đổi mới mạnh mẽ thể chế, hoàn thiện hệ thống pháp luật - bảo đảm sự vận hành của cơ chế thị trường và sự lành mạnh trong cạnh tranh như Nghị quyết điều hành đầu năm của Chính phủ.

TS. Trần Du Lịch