Sau khi M.S.Gorbachev (M.X. Goóc-ba-chốp) giữ được vị trí cao nhất trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, ông ta đã dốc hết sức thực hiện vai trò hai mặt. Là Tổng Bí thư nhưng cũng là một kẻ phản bội làm theo những gì mà phương Tây giao phó. Những gì mà vây cánh của ông ta nhận thấy được chỉ mới là phần tồi tệ nhất của trò chơi quyền lực. Trên thực tế, đã thành sự phản bội.

Sự “sáng tạo” đặc biệt của M.S.Gorbachev trong lĩnh vực điều hành là bề ngoài tỏ ra hành động theo đường lối “cải tổ” đã được lựa chọn đúng đắn, song thực chất, ông ta thường thông qua những quyết định nước đôi và rất khéo léo, những quyết định đó thường có lợi cho những kẻ phá hoại. Còn bản thân ông ta, trong những tình huống căng thẳng, bị dồn ép lại rất biết cách phòng thủ và lảng tránh.

Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng CH Gruzia G.D. Mgeladze kể lại: Vào một buổi tối muộn tại Văn phòng của Bí thư thứ nhất BCH T.Ư Đảng D.I. Patiasvili đã có cuộc thảo luận về tình hình chính trị tại Tbilisi. Tại hội nghị đã đưa ra vấn đề sao Trung ương chưa cho phép bắt giữ các thủ lĩnh cực đoan. Ban lãnh đạo Gruzia đang bị lửa đốt dưới chân, vậy mà Trung ương vẫn yêu cầu họ chờ đợi luật mới ra đời làm cho cuộc khủng hoảng chính trị ở Tbilisi tiếp tục thêm căng thẳng. Cũng như vậy, khi ở vùng Baltic xảy ra trường hợp tương tự thì ở đó họ cũng chỉ nhận được sự “an ủi”. Ở các nước cộng hòa, khi những kẻ cực đoan đưa ra những lời kêu gọi chống đối Nhà nước Xô Viết, chống chủ nghĩa xã hội, chống đảng, đòi ly khai khỏi Liên bang Xô Viết thì Gorbachev luôn “an ủi”: “Không để bị khiêu khích, không được can thiệp. Đó chỉ là đám bèo bọt trên làn sóng cải tổ lành mạnh. Chính chúng sẽ bị cuốn trôi”.

Liên Xô là quốc gia đa dân tộc. Thế lực chống cộng phương Tây, nhất là Mỹ luôn có âm mưu chia rẽ các dân tộc trong Liên bang Xô Viết. Trong những năm tháng cải tổ, M.S. Gorbachev lập lờ trước tình trạng mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc bùng lên dẫn đến phong trào ly khai đòi độc lập ở một số nước cộng hòa. Chính thái độ của M.S.Gorbachev đã dẫn đến hậu quả đẩy nhanh sự sụp đổ của thể chế chính trị  Xô Viết.

Chẳng những thế, trong thời kỳ diễn ra “cuộc cách mạng nhung” ở Tiệp Khắc, Gorbachev đã gọi điện thoại yêu cầu Thủ tướng Tiệp Khắc Adamets không được áp dụng những biện pháp trấn áp. Vì sự can thiệp của Gorbachev mà có các cuộc đàm phán của đảng cầm quyền với phe đối lập ở Tiệp Khắc để rồi kết cục bằng sự đầu hàng vô điều kiện của những người cộng sản.

Sau này, nhận xét về thái độ của Gorbachev về các sự kiện nêu trên, John Poindekster (người Mỹ) đã nhận xét rằng, “thật ngu xuẩn khi cho rằng Moscow (Mát-xcơ-va) không biết được gì về việc chúng ta đang làm. Ngay khi hoạch định chiến dịch, chúng ta đã bảo đảm rằng Moscow nói chung đã đoán ra việc chúng ta làm. Họ đã từng phản đối, đe dọa nhưng chưa đủ để buộc chúng ta phải thay đổi chính sách của mình”.

Chính vì chương trình phá hoại từng bước về chính trị mà kinh tế Liên Xô gặp phải khủng hoảng nặng nề nhất. Đó cũng là lúc, M.S.Gorbachev công khai cầu viện Mỹ. Trong “báo cáo” chuyển cho Tổng thống Mỹ G.Bush, ông ta viết: Tôi và ngài đã không ít lần phải hành động một cách cương quyết trong những tình huống khó khăn để giữ vững phát triển các sự kiện theo đúng hướng. Trong tương lai có thể có những bước ngoặt lớn nhưng sẽ không phản lại ngài trong bất kỳ trường hợp nào. Nhưng trước hết giờ đây nước Nga đang cần sự ủng hộ và giúp đỡ. Chính nước Nga đang trong tình hình nặng nề nhất”.

Chống phá Đảng từ bên trong

Bất kỳ một âm mưu nào nhằm vào đảng thì nhất định sẽ ảnh hưởng xấu đến vận mệnh quốc gia. M.S. Gorbachev và Yakovlev cùng bộ sậu của họ biết rõ điều đó khi chúng phá hoại đảng từ bên trong.

Vào đầu thời kỳ cải tổ, việc đầu tiên mà Gorbachev và êkíp của ông ta làm là đẩy hệ thống điều hành vào trạng thái bất ổn định. Rối loạn hệ thống sẽ có những hậu quả khôn lường. Cú đột phá đầu tiên là hút nguồn lực quốc gia vào lĩnh vực chế tạo máy do Gorbachev đề xướng vào năm 1985. Với chương trình hào nhoáng này, Liên Xô đã “đốt” 60 tỷ rúp, do đó các lĩnh vực kinh tế quốc dân khác bị suy thoái, xã hội bất ổn, xuất hiện tình trạng tổ chức đảng không kiểm soát được các hoạt động kinh tế.

Cái gọi là cải tổ về kinh tế ngay từ đầu đã thất bại, tiêu cực xã hội ngày càng tăng cao, được lý giải như là một thứ học phí của quá trình cải tổ. Nhân cơ hội này, M.S.Gorbachev làm phức tạp hóa tình hình, và tiếp tục sai lầm, đẩy mạnh cải cách chính trị với khẩu hiệu công khai hóa, dân chủ hóa.

Dư luận xã hội và trong nội bộ ĐCS Liên Xô đã không ít người nhận thấy những sai lầm rõ rệt có tính tổ chức của cái gọi là cải tổ do Gorbachev khởi xướng và điều hành. Trong bối cảnh hỗn loạn, thông tin chính thức lên Ban lãnh đạo cấp cao bị vô hiệu hóa, trong nội bộ đảng vẫn còn có luồng ý kiến cảnh báo: “Chúng ta đã bắt đầu nhận ra khuynh hướng nguy hiểm của việc các nhà lãnh đạo chính trị thiếu quan tâm tới công tác tình báo, những nhiệm vụ chính trị trở nên ít hơn, mối quan hệ ngược đã hoàn toàn bị cắt đứt”.

Còn người có trách nhiệm cao nhất, M.S. Gorbachev lúc đó như thế nào? Về điều này, M.S. Gorbachev đã có lần bày tỏ một cách lấp lửng với phóng viên truyền hình vào tháng 3-1991: “Tình hình càng phức tạp thì tôi càng thích làm việc hơn. Thật tuyệt vời”.

Cái gọi là “tư duy chính trị mới”

Cải tổ làm xã hội bất ổn. Nhằm thích ứng với cải tổ hơn nữa, M.S. Gorbachev tiếp tục phạm sai lầm nguy hiểm khi tung ra cái gọi là “tư duy chính trị mới” thực chất là xóa nhòa ý thức hệ tư tưởng, tạo ra cuộc “diễn biến hòa bình” ngay trong lòng xã hội Xô Viết và ĐCS Liên Xô.

Các nhân tố của “tư duy chính trị mới” đã trở thành nền tảng để cải tổ chính sách quân sự và đối ngoại. Những quan điểm sai lầm đó được phương Tây chào đón nhiệt thành. Có thể thấy rõ, trong “tư duy chính trị mới” này,  bao hàm những nguồn gốc phá hoại nền quốc phòng và nền an ninh, đối ngoại của Nhà nước Xô Viết, phá hoại về chính trị và tư tưởng. “Tư duy chính trị mới chỉ là ẩn danh, song không quá khó khăn để phát giác những dấu vết của những cố vấn bí mật cho Gorbachev. Những kẻ đó hàng chục năm ròng được nuôi dưỡng từ nhà bếp chính trị học phương Tây, đặc biệt là Mỹ. Những sản phẩm đó chỉ cung cấp cho nơi đặt hàng là Lầu Năm góc và CIA.

Liên Xô sụp đổ. Tháng 2 năm 1992, phát biểu tại Nghị viện Israel, M.S. Gorbachev tuyên bố: Tất cả những gì tôi làm với Liên Xô tôi đã làm!

Cũng trong năm đó, tại Quốc hội Mỹ, ông ta đã báo cáo thần tượng của chủ nghĩa cộng sản đã sụp đổ.

Sau này, năm 1999, tại trường đại học Mỹ ở Thổ Nhĩ Kỳ, M.S.Gorbachev đã tự thú nhận: Mục tiêu của toàn bộ cuộc đời tôi là tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản. Chính vì để đạt được mục tiêu này tôi đã sử dụng địa vị của mình trong Đảng và trong Nhà nước. Khi trực tiếp làm quen với phương Tây, tôi đã hiểu rằng tôi không thể từ bỏ mục tiêu chống cộng sản đã đặt ra. Và để đạt được nó, tôi đã phải thay đổi toàn bộ Ban lãnh đạo ĐCS Liên Xô và Xô Viết Tối cao cũng như Ban lãnh đạo ở tất cả các nước Cộng hòa. Tôi đã tìm kiếm những người ủng hộ để hiện thực hóa mục tiêu đó, trong số này đặc biệt có A.Yakovlev, Shevardnadze…

Sự phản bội lớn nhất của M.S.Gorbachev là thủ tiêu vai trò lãnh đạo của ĐCS Liên Xô đối với xã hội, cổ vũ hình thành các tổ chức chính trị đối lập, thực hiện đa nguyên, đa đảng.

Trong hơn sáu năm trên cương vị Tổng Bí thư, M.S.Gorbachev đã thay đổi hoàn toàn Bộ Chính trị và bộ phận chủ yếu của BCH T.Ư. Chỉ trong năm đầu tiên cầm quyền, ông ta thay 14 trong 23 lãnh đạo trong Ban Bí thư, 39 trong 101 bộ trưởng.

Những người trong “đội quân thứ năm”, cố vấn đặc biệt cho Gorbachev có thể kể trước hết Yakovlev, Shevardnadze, Primakov, Arbatov, Amlaski, G. Sakhnadarov… Những cộng sự đắc lực đó của Gorbachev đều đã từng nhận những chỉ dẫn của Mỹ và đã cùng với Gorbachev thực hiện thành công đường lối phản bội nhân danh cải tổ để tiêu diệt chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô.

Theo Thời Nay / Nhân Dân