
Chống gian lận thương mại vật liệu xây dựng vì thế không thể chỉ kiểm soát nơi tài nguyên được lấy lên, mà còn phải theo được đường đi của hàng hóa sau khi rời mỏ.
Khi vật liệu bắt đầu có một “lý lịch”
Theo số liệu tỉnh Quảng Trị công bố tháng 7/2026, toàn tỉnh có 472 mỏ, điểm quặng và điểm khoáng hóa được phát hiện, đăng ký quy hoạch, chủ yếu là đá, cát, sỏi và đất san lấp. Quy mô này đặt ra yêu cầu quản lý một dòng hàng hóa có nguồn gốc đặc thù.
Khác với nhiều hàng hóa có nhãn hiệu hoặc bao bì nhận diện, cát, đất hay đá sau khi rời khỏi mỏ rất khó phân biệt nguồn gốc bằng mắt thường. Một mét khối cát lấy từ mỏ được cấp phép và một mét khối cát có nguồn gốc không hợp pháp, sau khi cùng được đưa lên xe hoặc vào bãi tập kết, có thể không còn khác biệt về hình thức.
Bởi thế, “lý lịch” của vật liệu phải được hình thành ngay từ nơi khai thác và được duy trì trong quá trình lưu thông. Các thông tin cần nối tiếp nhau từ nguồn khai thác, khối lượng, phương tiện vận chuyển, bãi tập kết hoặc đơn vị kinh doanh đến người mua và công trình sử dụng. Chỉ cần một mắt xích mất khả năng chứng minh nguồn gốc, việc truy ngược đường đi của hàng hóa bắt đầu khó khăn.
Ngày 21/3/2026, tại phường Bắc Gianh, lực lượng chức năng phát hiện một xe tải vận chuyển khoảng 7 m³ cát vàng. Người quản lý phương tiện không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp và khai mua số cát này từ người không rõ lai lịch để san lấp.
Nếu người vận chuyển không chứng minh được vật liệu mua từ đâu, khả năng truy ngược về nguồn khai thác đã bị đứt ngay trên đường lưu thông.

Nguồn gốc có thể mất dấu sau cửa mỏ
Quản lý khoáng sản thường bắt đầu bằng những thông số cụ thể: Vị trí, ranh giới, trữ lượng, công suất và thời hạn khai thác. Nhưng khi vật liệu rời khu vực được cấp phép, bài toán thay đổi. Lúc này, vấn đề không còn chỉ là khai thác ở đâu, mà còn là lượng hàng nào đã được đưa ra thị trường và qua những khâu nào trước khi đến người sử dụng.
Cuối tháng 12/2025, Công an tỉnh Quảng Trị công bố vụ khai thác khoáng sản trái phép; kết quả kiểm tra và tài liệu chứng cứ thu thập bước đầu xác định các cá nhân liên quan đã lợi dụng hoạt động khai thác cát được cấp phép để khai thác ngoài phạm vi được phép. Tổng khối lượng được xác định bước đầu khoảng 5.585 m³, trong đó khoảng 1.000 m³ được khai nhận đã xuất bán trước thời điểm kiểm tra.
Dưới góc độ quản lý tài nguyên, vấn đề nằm ở việc khai thác ngoài phạm vi được cấp phép. Nhưng dưới góc độ quản lý hàng hóa, chi tiết khoảng 1.000 m³ đã được xuất bán đặt ra câu hỏi khác: Khi vật liệu có nguồn gốc từ hoạt động khai thác sai phạm đã đi vào lưu thông, hệ thống quản lý dựa vào đâu để nhận diện nó?
Nếu nguồn gốc chỉ được kiểm soát tại mỏ nhưng không được duy trì trong quá trình vận chuyển, tập kết và kinh doanh, hàng hóa có nguồn gốc khác nhau có thể cùng xuất hiện trên một thị trường. Một bãi tập kết có thể tiếp nhận hàng từ nhiều nguồn; nếu từng lượng vật liệu không giữ được mối liên hệ với nơi khai thác ban đầu, việc kiểm tra ở điểm cuối sẽ khó xác định chính xác chúng đến từ đâu.
Vì vậy, điều cần kiểm soát không chỉ là từng địa điểm riêng lẻ mà là sự liên tục của thông tin đi cùng hàng hóa.

Từ kiểm tra từng khâu đến theo dõi cả đường đi
Ngày 11/8/2026, UBND tỉnh Quảng Trị ban hành Công văn 3944/UBND-NNMT, yêu cầu tiếp tục tăng cường quản lý hoạt động khoáng sản. Nội dung chỉ đạo bao gồm cả khai thác, vận chuyển, tập kết, kinh doanh và giám sát hoạt động tại các mỏ được cấp phép.
Các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động khoáng sản cũng được yêu cầu khai thác đúng ranh giới, độ sâu, công suất, trữ lượng; thực hiện đầy đủ việc lắp đặt, quản lý, vận hành trạm cân, camera giám sát và thiết bị theo dõi sản lượng; lưu trữ, cung cấp dữ liệu khi cơ quan quản lý yêu cầu.
Cách tiếp cận đó cho thấy quản lý đang dịch chuyển từ việc chỉ kiểm soát giấy phép sang kiểm soát cả quá trình vật liệu được đưa ra khỏi mỏ. Nếu mục tiêu cuối cùng là chống thất thoát tài nguyên và gian lận thương mại, chuỗi quản lý cần được nhìn như một đường đi liên tục.
Ở nơi khai thác, cần xác định vật liệu nào được phép đưa ra khỏi mỏ. Trên đường vận chuyển, nguồn gốc phải tiếp tục được chứng minh. Khi vào bãi tập kết hoặc cơ sở kinh doanh, khả năng truy ngược về nơi khai thác không được mất đi. Đến điểm sử dụng cuối cùng, vật liệu vẫn phải có căn cứ để xác định nguồn cung.

Một mét khối vật liệu khi bước vào thị trường cần trả lời được ba câu hỏi: Nó đến từ đâu, đã đi qua đâu và được đưa đến đâu.
Điều này không nhất thiết đồng nghĩa với việc tạo thêm nhiều thủ tục giấy tờ. Hướng quản lý hiệu quả hơn là làm cho những dữ liệu vốn đã phát sinh trong quá trình khai thác, vận chuyển và kinh doanh có khả năng nối với nhau.
Nếu chỉ kiểm soát việc khai thác, Nhà nước mới quản được điểm xuất phát. Muốn chống gian lận thương mại, cần giữ được dấu vết của vật liệu trong suốt quá trình đi từ nguồn khai thác đến thị trường.
Giữ được “lý lịch” ấy còn tạo cơ sở để kiểm chứng những vấn đề tiếp theo: Khối lượng thực tế, số liệu kê khai, giá trị giao dịch và chứng từ đi cùng hàng hóa.
Và đó là câu hỏi tiếp theo của chuỗi quản lý: Khi vật liệu đã có đường đi, các con số và giấy tờ đi cùng nó có phản ánh đúng cùng một lượng hàng hay không?
Đình Lương























