Hệ thống quản lý quốc gia về hành nghề và hoạt động khám bệnh, chữa bệnh được xây dựng nhằm quản lý dữ liệu người hành nghề và cơ sở khám, chữa bệnh, góp phần tăng khả năng quản lý, giám sát và kiểm chứng thông tin. Ảnh: Sở Y tế Hà Nội.
Hệ thống quản lý quốc gia về hành nghề và hoạt động khám bệnh, chữa bệnh được xây dựng nhằm quản lý dữ liệu người hành nghề và cơ sở khám, chữa bệnh, góp phần tăng khả năng quản lý, giám sát và kiểm chứng thông tin (Ảnh: Sở Y tế Hà Nội)

Vì vậy, bảo vệ niềm tin vào một cơ sở khám, chữa bệnh không thể chỉ trông chờ vào sự tỉnh táo của người sử dụng dịch vụ. Điều cần thiết là những thông tin phù hợp về cơ sở, người hành nghề, chất lượng, giá dịch vụ và kết quả quản lý phải có thể được tiếp cận, đối chiếu và sử dụng trước khi một lựa chọn được đưa ra.

Kiểm chứng không thể chỉ là việc của người bệnh

Người bệnh có quyền lựa chọn cơ sở khám, chữa bệnh và người hành nghề. Nhưng một lựa chọn chỉ thực sự có ý nghĩa khi người lựa chọn có đủ thông tin cần thiết để cân nhắc.

Luật Khám bệnh, chữa bệnh quy định người bệnh có quyền được thông tin, giải thích về tình trạng sức khỏe, phương pháp, dịch vụ khám, chữa bệnh và giá dịch vụ; được lựa chọn sau khi đã được cung cấp thông tin, giải thích, tư vấn. Pháp luật cũng đặt trách nhiệm lên người hành nghề và cơ sở khám, chữa bệnh trong việc cung cấp thông tin, thực hiện đúng chuyên môn và công khai những nội dung thuộc phạm vi phải công khai.

Điều đó cho thấy kiểm chứng không phải là việc có thể giao hoàn toàn cho người bệnh. Một người có thể tìm hiểu nơi mình dự định khám, hỏi thêm ý kiến hoặc so sánh giá dịch vụ, nhưng không thể tự mình kiểm định toàn bộ năng lực chuyên môn, phạm vi hành nghề, chất lượng kỹ thuật hay tính chính xác của mọi thông tin chuyên môn.

Trách nhiệm vì thế được đặt ở nhiều phía. Cơ sở khám, chữa bệnh và người hành nghề phải trung thực, thực hiện đúng phạm vi chuyên môn và chịu trách nhiệm về thông tin mình cung cấp. Cơ quan quản lý thực hiện cấp phép, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm và công khai thông tin theo quy định. Người sử dụng dịch vụ tiếp cận thông tin, lựa chọn, phản ánh và tham gia giám sát.

Tháng 10/2025, Bộ Y tế ban hành Chỉ thị 07/CT-BYT về tăng cường công tác quản lý, nâng cao chất lượng hoạt động khám bệnh, chữa bệnh. Chỉ thị yêu cầu các Sở Y tế công khai danh sách cơ sở đã được cấp phép, phạm vi hoạt động chuyên môn, thời gian hoạt động, danh sách và phạm vi hoạt động chuyên môn của người hành nghề; công khai giá dịch vụ để người bệnh biết, lựa chọn và phản ánh khi có sai phạm.

Chỉ thị cũng yêu cầu thông báo công khai các cơ sở vi phạm pháp luật về y tế cùng tính chất, mức độ vi phạm và hình thức xử phạt để người dân theo dõi, giám sát và lựa chọn cơ sở phù hợp.

Như vậy, sự thận trọng của người bệnh là cần thiết, nhưng không thể biến người bệnh thành người chịu trách nhiệm cuối cùng cho việc phát hiện một cơ sở hoạt động sai hoặc cung cấp thông tin sai lệch. Niềm tin chỉ có cơ sở khi phía nắm chuyên môn và hệ thống quản lý cùng thực hiện đúng trách nhiệm của mình.

Ảnh: Minh họa.
Ảnh minh họa

Từ dữ liệu quản lý đến căn cứ để lựa chọn

Một giấy phép được cấp, một người hành nghề được đăng ký, một mức giá được niêm yết hay một quyết định xử lý vi phạm đều tạo ra dữ liệu phục vụ quản lý. Nhưng đối với người dân, câu hỏi tiếp theo là những dữ liệu phù hợp cho việc lựa chọn có thể được tìm thấy, tiếp cận và sử dụng để đối chiếu hay không.

Đây là khoảng cách cần tiếp tục thu hẹp giữa dữ liệu phục vụ quản lý và thông tin có thể hỗ trợ quyết định của xã hội.

Luật Khám bệnh, chữa bệnh đã đặt ra các nghĩa vụ công khai nhất định. Cơ sở khám, chữa bệnh phải công khai thời gian làm việc, danh sách người hành nghề và thời gian làm việc của từng người; niêm yết giá dịch vụ tại cơ sở và trên hệ thống thông tin quản lý hoạt động khám bệnh, chữa bệnh. Pháp luật cũng quy định việc đánh giá chất lượng và công khai kết quả đánh giá chất lượng theo quy định.

Trên nền tảng đó, Kế hoạch số 1203/KH-KCB ngày 28/7/2025 của Cục Quản lý Khám, chữa bệnh đặt mục tiêu xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia/chuyên ngành về khám, chữa bệnh, trong đó có dữ liệu về hành nghề và cơ sở khám, chữa bệnh trên phạm vi toàn quốc, hướng tới chuẩn hóa, số hóa và kết nối dữ liệu.

Đây là nền tảng đáng chú ý, nhưng không nên đồng nhất kế hoạch xây dựng cơ sở dữ liệu với việc mọi thông tin cần thiết đã được tập hợp đầy đủ trong một hệ thống hoàn chỉnh để người dân có thể tra cứu ngay. Giá trị của dữ liệu đối với lựa chọn xã hội chỉ hình thành khi những thông tin phù hợp thực sự có khả năng được tìm thấy, tiếp cận và sử dụng để đối chiếu.

Trước khi trao niềm tin cho một cơ sở khám, chữa bệnh, người dân cần có khả năng tìm được những thông tin cơ bản: cơ sở được phép hoạt động trong phạm vi nào; ai đang hành nghề và trong phạm vi nào; giá dịch vụ được công khai ra sao; những vi phạm nào đã được cơ quan có thẩm quyền xử lý và công khai theo quy định.

Chất lượng cũng cần được nhìn từ nhiều phía. Kết quả tự đánh giá của cơ sở là một nguồn thông tin, nhưng không phải nguồn duy nhất. Phản hồi của người bệnh, kết quả đánh giá chất lượng, kiểm tra chuyên môn, giám sát của cơ quan quản lý và những thông tin được công khai theo quy định có thể bổ sung cho nhau.

Sự hài lòng của người bệnh có giá trị đối với việc đánh giá trải nghiệm, nhưng không đồng nhất với toàn bộ chất lượng chuyên môn, an toàn hay kết quả điều trị. Vì vậy, một cơ chế kiểm chứng có ý nghĩa phải giúp người sử dụng dịch vụ phân biệt được những lớp thông tin khác nhau thay vì gom tất cả vào một chỉ số hay một lời quảng bá.

Có dữ liệu quản lý là một bước. Biến những dữ liệu phù hợp thành căn cứ mà xã hội có thể tiếp cận, đối chiếu và sử dụng trước khi lựa chọn là bước tiếp theo. Điều đó không chỉ bảo vệ người sử dụng dịch vụ mà còn bảo vệ những cơ sở làm thật, có chất lượng và muốn uy tín của mình được chứng minh bằng căn cứ.

Ảnh: Minh họa.
Ảnh minh họa

Để dữ liệu bảo vệ niềm tin

Kiểm chứng không nên kết thúc ở thời điểm một giấy phép được cấp hoặc một thông tin được công khai. Trong hoạt động khám, chữa bệnh, chất lượng, nhân sự, phạm vi chuyên môn, giá dịch vụ và tình trạng tuân thủ đều có thể thay đổi theo thời gian.

Bởi vậy, dữ liệu chỉ thực sự tham gia bảo vệ niềm tin khi có khả năng được cập nhật từ quá trình quản lý và hậu kiểm. Cấp phép tạo ra dữ liệu quản lý. Kiểm tra và xử lý vi phạm tạo thêm dữ liệu. Phản ánh của người sử dụng dịch vụ có thể trở thành đầu vào cho kiểm tra, giám sát. Khi kết quả hậu kiểm phù hợp được cập nhật và công khai theo quy định, nó lại trở thành căn cứ cho những lựa chọn tiếp theo.

Chỉ thị 07/CT-BYT đã đặt một mắt xích quan trọng khi yêu cầu tăng cường tiếp nhận phản ánh, duy trì đường dây nóng, các nền tảng và hệ thống tiếp nhận trực tuyến; đồng thời công khai cơ sở vi phạm để người dân theo dõi, giám sát và lựa chọn. Vấn đề tiếp theo là làm sao để những mắt xích ấy kết nối thành một quá trình thông tin có khả năng phục vụ cả quản lý lẫn lựa chọn.

Ở chiều ngược lại, cơ sở khám, chữa bệnh cũng có lợi ích chính đáng từ cơ chế kiểm chứng. Khi năng lực chuyên môn, chất lượng, sự tuân thủ và những kết quả tích cực có căn cứ được ghi nhận, một thương hiệu tốt không phải phụ thuộc quá nhiều vào lời tự giới thiệu. Dữ liệu phù hợp và khả năng kiểm chứng có thể trở thành một phần của uy tín.

Tất nhiên, kiểm chứng không đồng nghĩa với công khai càng nhiều càng tốt. Y tế liên quan đến hồ sơ bệnh án, dữ liệu sức khỏe và nhiều thông tin cá nhân nhạy cảm. Điều cần được tiếp cận để phục vụ lựa chọn và giám sát phải là những thông tin phù hợp, cần thiết và thuộc phạm vi pháp luật cho phép hoặc yêu cầu công khai.

Một cơ sở khám, chữa bệnh xây dựng thương hiệu bằng năng lực chuyên môn, chất lượng, sự an toàn, trung thực và trách nhiệm; bằng những giá trị không chỉ được chính cơ sở công bố mà còn có căn cứ để xã hội đối chiếu và kiểm chứng.

Trong y tế, được biết đến chưa đủ để trở thành thương hiệu. Được tin cũng chưa đủ nếu niềm tin không có cơ sở kiểm chứng.

Giá trị cuối cùng của một thương hiệu y tế là xứng đáng với phần quyền quyết định về sức khỏe mà con người đã trao cho nó.

Hoàng Hữu Quyết - Đình Lương