Lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Trị làm việc về quy hoạch khoáng sản và kế hoạch đấu giá quyền khai thác khoáng sản.
Lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Trị làm việc về quy hoạch khoáng sản và kế hoạch đấu giá quyền khai thác khoáng sản.

Khi khoáng sản được khai thác, thu hồi và trở thành hàng hóa lưu thông trên thị trường, yêu cầu quản lý không chỉ dừng ở cấp phép, mà phải kiểm soát nguồn gốc, khối lượng, nghĩa vụ tài chính, chống thất thoát tài nguyên và nâng chất lượng đội ngũ thực thi.

Ngày 4/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.25/2026/NQ-CP về xử lý khó khăn, vướng mắc liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý Nhà nước về khu công nghiệp, địa chất, khoáng sản. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 15/9/2026 đến hết ngày 28/2/2027.

Theo Nghị quyết, nhiều nhiệm vụ quản lý Nhà nước về địa chất, khoáng sản được chuyển từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng sang Bộ Công Thương. Ở cấp tỉnh, nhiệm vụ tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về địa chất và khoáng sản của Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Xây dựng được chuyển sang Sở Công Thương.

Đại diện các sở, ngành tham gia buổi làm việc.
Đại diện các sở, ngành tham gia buổi làm việc.

Khoáng sản từ tài nguyên đến hàng hóa

Sự chuyển giao đầu mối diễn ra trong bối cảnh quản lý khoáng sản ngày càng gắn chặt với bài toán thị trường. Khoáng sản khi còn trong tự nhiên là tài nguyên phải được quản lý, bảo vệ; nhưng sau khi được khai thác, thu hồi, vận chuyển và tiêu thụ, nó trở thành hàng hóa có giá trị kinh tế. Vì vậy, quản lý khoáng sản không thể tách rời việc kiểm soát nguồn gốc, khối lượng, dòng lưu chuyển và nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.

Thực tế tại tỉnh Quảng Trị cho thấy yêu cầu này rất rõ. Ngày 23/3/2026, UBND tỉnh ban hành Công văn số 1042/UBND-NNMT về tăng cường quản lý Nhà nước đối với hoạt động khai thác khoáng sản. Hiện địa phương vẫn còn tình trạng khai thác trái phép, doanh nghiệp chưa chấp hành nghiêm quy định, công tác quản lý ở cơ sở có nơi thiếu chặt chẽ, gây nguy cơ thất thoát tài nguyên, thất thu ngân sách. UBND tỉnh đồng thời yêu cầu kiểm soát chặt hoạt động vận chuyển, kinh doanh khoáng sản, đặc biệt là cát, sỏi không rõ nguồn gốc.

Đến tháng 7/2026, toàn tỉnh có 472 mỏ, điểm quặng và điểm khoáng hóa được phát hiện, đăng ký quy hoạch; 151 Giấy phép khai thác khoáng sản còn hiệu lực. Kế hoạch đấu giá quyền khai thác khoáng sản năm 2026 được đề xuất với 36 khu vực, tổng diện tích hơn 477 ha. Quy mô đó cho thấy quản lý khoáng sản không chỉ là câu chuyện tài nguyên, mà còn liên quan trực tiếp đến nguồn cung vật liệu, thị trường xây dựng, nguồn thu ngân sách và môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp.

Bởi vậy, khi khoáng sản đi từ mỏ, lòng sông, lòng hồ đến bãi tập kết rồi ra thị trường, mỗi khâu đều cần một cơ chế kiểm soát có thể truy xuất. Nếu nguồn gốc không rõ, khối lượng thực tế không được kiểm soát hoặc nghĩa vụ tài chính không tương xứng với lượng tài nguyên đưa ra thị trường, khoảng trống quản lý có thể trở thành điều kiện cho thất thoát tài nguyên và gian lận trong lưu thông hàng hóa.

Lực lượng chức năng phường Bắc Gianh kiểm tra hoạt động khai thác, vận chuyển, tập kết, kinh doanh khoáng sản trên địa bàn.
Lực lượng chức năng phường Bắc Gianh kiểm tra hoạt động khai thác, vận chuyển, tập kết, kinh doanh khoáng sản trên địa bàn.

Bài học từ hơn 1 triệu m³ cát Đakrông 4

Một trường hợp từng gây chú ý tại tỉnh Quảng Trị là phương án nạo vét lòng hồ Thủy điện Đakrông 4 kết hợp thu hồi khoáng sản. Báo chí đã đặt ra hàng loạt câu hỏi về bản chất hoạt động nạo vét, căn cứ kỹ thuật, khối lượng cát và cơ chế kiểm soát tài nguyên thu hồi?.

Theo hồ sơ phương án ban đầu có diện tích khoảng 32,6 ha, chia thành 5 khu vực, với tổng khối lượng hơn 1,03 triệu m³ cát làm vật liệu xây dựng thông thường và thời gian thực hiện 5 năm. Tờ trình số 244/TTr-SNNMT ngày 6/3/2026 của Sở Nông nghiệp và Môi trường đã đưa hồ sơ vào quy trình xem xét theo hướng xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản.

Điều đáng lưu ý dưới góc độ thị trường là hơn 1 triệu m³ cát, nếu được thu hồi và đưa ra lưu thông, không còn chỉ là vật chất được lấy khỏi lòng hồ. Đó là một khối lượng hàng hóa rất lớn. Khi ấy, những câu hỏi về cát hình thành từ đâu, khối lượng được xác lập bằng căn cứ nào, thu hồi bao nhiêu, vận chuyển đi đâu, tiêu thụ thế nào và thực hiện nghĩa vụ tài chính ra sao đều trở thành những mắt xích của quản lý tài nguyên gắn với quản lý thị trường.

Ngày 24/3/2026, doanh nghiệp xin rút hồ sơ để điều chỉnh phương án, giảm khối lượng từ hơn 1,03 triệu m³ trong 5 năm xuống còn 206.672 m³ trong 1 năm. Ngày 25/3, UBND tỉnh yêu cầu rà soát lại sự cần thiết, quy mô và quy trình thực hiện. Sau đó doanh nghiệp rút toàn bộ hồ sơ. Việc khối lượng đề xuất giảm gần 80% trong thời gian rất ngắn.

Một số Giấy phép khai thác khoáng sản chưa xác định mức sâu khai thác thấp nhất.
Một số Giấy phép khai thác khoáng sản chưa xác định mức sâu khai thác thấp nhất.

Chuyển chức năng phải nâng chất lượng đội ngũ

Nghị quyết 66.25/2026/NQ-CP không chỉ chuyển nhiệm vụ và thẩm quyền. UBND cấp tỉnh còn phải tổ chức chuyển giao các chương trình, đề án, dự án, tổ chức, nhân lực, hồ sơ, dữ liệu, tài sản, tài chính và các nguồn lực phục vụ quản lý Nhà nước về địa chất, khoáng sản. Hồ sơ đang giải quyết được kế thừa để tránh gián đoạn thủ tục cho người dân, doanh nghiệp.

Tuy nhiên, yêu cầu bảo đảm tính liên tục của công việc không đồng nghĩa với việc quá trình sắp xếp nhân lực chỉ nên là chuyển nguyên trạng con người từ cơ quan cũ sang cơ quan mới. Đây là thời điểm phù hợp để địa phương rà soát vị trí việc làm, năng lực chuyên môn, chất lượng tham mưu, trách nhiệm công vụ và kết quả thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ trực tiếp làm công tác địa chất, khoáng sản.

Đối với tỉnh Quảng Trị, yêu cầu này càng đáng lưu ý khi chính UBND tỉnh đã nhìn nhận những tồn tại trong quản lý khoáng sản và yêu cầu tăng cường kiểm soát cả khai thác, vận chuyển, kinh doanh, nguồn gốc vật liệu và nghĩa vụ tài chính. Việc chuyển nhiệm vụ sang Sở Công Thương vì thế là cơ hội để vừa kế thừa những cán bộ có năng lực, kinh nghiệm, vừa sàng lọc, sắp xếp lại những vị trí không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới theo quy định.

Một cơ chế quản lý hiệu quả phải theo được khoáng sản từ khi còn là tài nguyên đến lúc trở thành hàng hóa trên thị trường. Muốn vậy, ngoài quy định pháp luật và công nghệ giám sát, yếu tố quyết định vẫn là chất lượng của người tham mưu, thẩm định và tổ chức thực thi.

Chuyển đầu mối quản lý là thay đổi về tổ chức. Còn để thay đổi chất lượng quản lý khoáng sản, cần kiểm soát được nguồn gốc, khối lượng và dòng lưu chuyển của tài nguyên khi trở thành hàng hóa; đồng thời không để những điểm nghẽn cũ được chuyển nguyên trạng sang bộ máy mới.

Đình Lương