
Quy định pháp lý hiện hành định biên cơ cấu nhân sự người hoạt động không chuyên trách ở mỗi thôn, tổ dân phố không quá 3 người, bao gồm các chức danh nòng cốt là Trưởng thôn (hoặc Tổ trưởng tổ dân phố), Bí thư Chi bộ và Trưởng ban Công tác Mặt trận.
Căn cứ theo các quy định về tinh giản biên chế tại Nghị định số 154/NĐ-CP được ban hành trước đó, mức phụ cấp hằng tháng làm cơ sở tính trợ cấp cho người hoạt động không chuyên trách nghỉ việc là khoản phụ cấp của tháng liền kề trước khi chấm dứt lao động, nguồn kinh phí này do ngân sách Trung ương khoán quỹ chi trả. Trong kịch bản nhân sự thực hiện kiêm nhiệm thêm các nhiệm vụ khác tại địa phương, dòng tiền trợ cấp sẽ chỉ tính toán dựa trên mức phụ cấp hằng tháng của chức danh chính, hoàn toàn không cấu thành khoản phụ cấp của chức danh kiêm nhiệm.
Về phương thức xác định thời gian công tác, Chính phủ hướng dẫn tổng thời gian để tính trợ cấp tinh giản biên chế là tổng hòa giữa thời gian đảm nhiệm các chức danh không chuyên trách tại thôn, tổ dân phố và thời gian công tác có tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc tại các vị trí việc làm khác trong hệ thống chính trị hoặc cơ quan, đơn vị nếu có.
Nghị định số 185/2026/NĐ-CP phân định rõ cấu phần trợ cấp thành các nhóm đối tượng cụ thể căn cứ vào độ tuổi và thời gian công tác thực tế của người lao động.
Nhóm nhân sự có dưới 5 năm công tác và chưa đến tuổi nghỉ hưu: Đối tượng thuộc diện này được nhận khoản trợ cấp một lần tính bằng 0,8 lần mức phụ cấp hằng tháng hiện hưởng nhân với tổng số tháng công tác thực tế, đi kèm khoản trợ cấp bổ sung bằng 1,5 lần mức phụ cấp hằng tháng hiện hưởng cho mỗi năm công tác. Người nghỉ việc còn được nhận thêm 3 tháng phụ cấp hiện hưởng để hỗ trợ tìm kiếm việc làm mới, đồng thời được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc lựa chọn hưởng bảo hiểm xã hội một lần.
Nhóm nhân sự có từ đủ 5 năm công tác trở lên và có tuổi đời còn dưới 5 năm đến tuổi nghỉ hưu: Người lao động được hưởng khoản trợ cấp một lần bằng 0,8 lần mức phụ cấp hằng tháng hiện hưởng nhân với số tháng nghỉ việc sớm so với tuổi nghỉ hưu quy định, cộng với khoản trợ cấp bằng 1,5 lần mức phụ cấp hằng tháng hiện hưởng cho mỗi năm công tác. Nhóm này cũng được nhận thêm 3 tháng phụ cấp để tìm việc làm và thực hiện các chế độ bảo lưu hoặc rút bảo hiểm xã hội một lần.
Nhóm nhân sự có từ đủ 5 năm công tác trở lên và có tuổi đời từ đủ 5 năm trở lên đến tuổi nghỉ hưu: Khung trợ cấp một lần được ấn định bằng 0,8 lần mức phụ cấp hằng tháng hiện hưởng nhân với mốc cố định là 60 tháng, đi kèm khoản trợ cấp bằng 1,5 lần mức phụ cấp hằng tháng hiện hưởng cho mỗi năm công tác. Các điều khoản về hỗ trợ 3 tháng phụ cấp tìm việc làm và giải quyết chính sách bảo hiểm xã hội được áp dụng đồng bộ tương tự các nhóm trên.
Nhóm nhân sự đã đủ tuổi nghỉ hưu hoặc đang hưởng chế độ hưu trí, mất sức lao động: Đối với những trường hợp người hoạt động không chuyên trách ở cơ sở đã tham gia cống hiến khi đã có tuổi hoặc đang nhận lương hưu hằng tháng, khi thực hiện tinh giản do sáp nhập thôn sẽ được ngân sách nhà nước chi trả một khoản trợ cấp một lần trọn gói bằng 15 tháng phụ cấp hằng tháng hiện hưởng.
Sự ra đời của các khung chính sách trợ cấp tinh giản biên chế tại Nghị định số 185/2026/NĐ-CP là bước chuẩn bị đồng bộ nhằm giải quyết chế độ cho lượng nhân sự dôi dư khi cả nước bước vào đợt tổng sắp xếp lại thôn, tổ dân phố theo hệ thống tiêu chí quy mô dân cư mới. Quy chuẩn diện tích và số hộ gia đình để thành lập hoặc duy trì đơn vị tự quản cơ sở hiện đã được nới rộng rất mạnh mẽ theo từng vùng địa lý đặc thù.
Tại khu vực đô thị đặc biệt Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh: Quy mô tiêu chuẩn của thôn phải đạt từ mốc 500 hộ gia đình trở lên, và đối với tổ dân phố là từ 700 hộ gia đình trở lên.
Tại vùng Trung du và Miền núi phía Bắc: Khung quy định tối thiểu của thôn là từ 150 hộ gia đình và tổ dân phố là từ 300 hộ trở lên.
Tại vùng Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long: Thôn phải có quy mô từ 400 hộ gia đình trở lên và tổ dân phố phải đạt từ 550 hộ gia đình trở lên.
Tại vùng Bắc Trung Bộ: Tiêu chuẩn định biên đối với thôn là từ 350 hộ gia đình trở lên và đối với tổ dân phố là từ 450 hộ gia đình trở lên.
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên: Quy mô của thôn được xác lập từ 300 hộ gia đình trở lên, trong khi tổ dân phố đòi hỏi đạt từ 450 hộ gia đình trở lên.
Nguyễn Thanh












![[Infographic] Tháng vận động triển khai BHXH toàn dân năm 2026: Kết quả nổi bật](https://media.thuonghieucongluan.vn/uploads/2026/05/12/soi-noi-le-ra-quan-huong-ung-thang-van-dong-trien-khai-bao-hiem-xa-hoi-toan-dan-20260509132333-1778558821.jpg)











