Khu vực DNNVV đang chiếm phần lớn cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, nhưng khả năng tiếp cận tín dụng vẫn chưa tương xứng với vai trò trong nền kinh tế.
Tính đến tháng 7/2026, cả nước có khoảng 914.000 DNNVV, chiếm 94% tổng số doanh nghiệp. Tuy nhiên, chỉ khoảng 187.000 doanh nghiệp có dư nợ tại ngân hàng, tương đương 20,5%. Tỷ lệ này ở nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ chỉ đạt 8,8%, trong khi nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa khoảng 30,9%.
Những con số trên cho thấy khoảng cách giữa nhu cầu vốn và khả năng tiếp cận tín dụng vẫn rất lớn. Đáng chú ý, không phải mọi doanh nghiệp chưa có dư nợ đều thiếu hoạt động kinh doanh hoặc không có khả năng trả nợ.

Khi tài sản thế chấp chưa phản ánh đầy đủ năng lực kinh doanh
Một trong những nguyên nhân khiến DNNVV khó tiếp cận vốn là phương thức đánh giá tín dụng truyền thống vẫn đặt nặng tài sản bảo đảm, hồ sơ tài chính và lịch sử tín dụng.
Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp có doanh thu, đơn hàng và dòng tiền thực tế nhưng thiếu tài sản thế chấp hoặc chưa xây dựng được hệ thống báo cáo tài chính đủ chuẩn. Dữ liệu về doanh thu, thuế, bảo hiểm xã hội, tiền lương và dòng tiền thường phân tán, chưa được kết nối đầy đủ để phục vụ đánh giá tín dụng.
Sự thiếu hụt dữ liệu khiến ngân hàng khó phân biệt giữa doanh nghiệp thực sự có tiềm năng nhưng chưa đủ hồ sơ và doanh nghiệp tiềm ẩn rủi ro cao.
Theo số liệu trong Đề án, khoảng 162.000 DNNVV đã hoạt động trên 5 năm nhưng chưa có dư nợ. Trong số này, 49,7% có dòng tiền kinh doanh dương và 58% ghi nhận tăng trưởng doanh thu. Khoảng 51.000 doanh nghiệp đồng thời có dòng tiền dương và doanh thu tăng trưởng.
Đây là nhóm cho thấy dư địa mở rộng tín dụng vẫn còn, nếu ngân hàng có phương pháp nhận diện phù hợp hơn.
Vấn đề không chỉ nằm ở tiêu chí thẩm định, mà còn ở sản phẩm và quy trình cho vay. DNNVV hoạt động trong nhiều ngành nghề, quy mô và chuỗi cung ứng khác nhau, nhưng sản phẩm tín dụng chưa phải lúc nào cũng đáp ứng được đặc thù từng mô hình. Quy trình xử lý kéo dài cũng làm tăng chi phí tiếp cận vốn.
Dữ liệu mở rộng cửa tín dụng, nhưng không hạ chuẩn rủi ro
Quyết định 1809/QĐ-TTg đặt ra định hướng thay đổi phương thức cấp tín dụng theo hướng đánh giá toàn diện hơn năng lực sản xuất kinh doanh, dòng tiền, chuỗi giá trị và dữ liệu thanh toán.
Để thực hiện, Đề án định hướng xây dựng Cơ sở dữ liệu DNNVV trong Hệ thống thông tin doanh nghiệp quốc gia, kết nối các thông tin về doanh thu, lợi nhuận, nghĩa vụ thuế, bảo hiểm xã hội, tiền lương, hóa đơn và những dữ liệu liên quan.
Các nguồn dữ liệu phi truyền thống như viễn thông, bảo hiểm xã hội, điện, nước và dữ liệu ESG cũng được định hướng khai thác cùng Big Data, AI và định danh điện tử.
Nếu được triển khai hiệu quả, ngân hàng có thể đánh giá doanh nghiệp dựa trên bức tranh tài chính và hoạt động thực tế thay vì phụ thuộc vào một loại tài sản bảo đảm. Dữ liệu về đơn hàng, doanh thu, lịch sử thanh toán và vị trí trong chuỗi cung ứng có thể trở thành căn cứ bổ sung để thiết kế sản phẩm tín dụng phù hợp.
Tuy nhiên, mở rộng khả năng tiếp cận vốn không đồng nghĩa nới lỏng kỷ luật tín dụng. Ngân hàng vẫn phải kiểm soát rủi ro, còn doanh nghiệp cần nâng cao năng lực quản trị, minh bạch tài chính và trách nhiệm sử dụng vốn.
Với mục tiêu 300.000 DNNVV có dư nợ vào năm 2030, yêu cầu đặt ra cho cả hai phía là thay đổi cách tiếp cận. Doanh nghiệp phải chứng minh năng lực bằng dữ liệu đáng tin cậy; ngân hàng cần đầu tư vào hệ thống phân tích, số hóa quy trình và phát triển sản phẩm theo dòng tiền, chuỗi giá trị.
Khi đó, tín dụng mới có thể tiếp cận rộng hơn những doanh nghiệp đang hoạt động thực chất, đồng thời bảo đảm nguồn vốn được phân bổ dựa trên năng lực tạo ra giá trị và khả năng trả nợ.
Nam Sơn (t/h)























