KỲ 1: NGÀY ĐỊNH MỆNH
Cô giáo Dương Thị Huệ, nguyên giáo viên Trường PTTH Lam Sơn (nay là Trường THPT chuyên Lam Sơn) bắt đầu câu chuyện với chúng tôi bằng giọng nghẹn ngào: “Ngày 4-5 âm lịch, ngay trước Tết Đoan ngọ hằng năm là ngày giỗ chung của rất nhiều người dân ở thành phố Thanh Hóa này”. Đúng vậy, hằng năm, cứ đến ngày 14-6 là ngày khúc sông Mã chảy qua địa phận phường Nam Ngạn, cách cây cầu Hàm Rồng lịch sử khoảng 500m về phía hạ lưu lại nghi ngút khói hương, và trên sông chen chúc những chiếc thuyền giấy chở theo bao nỗi đau thương, mất mát của thân nhân những người đã ngã xuống trong trận bom lịch sử.
Vừa đắp đê, vừa chống giặc
Năm 1965, khi quyết định mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền bắc, Mỹ coi cầm Hàm Rồng là trọng điểm tiến công nhằm cắt đứt tuyến đường giao thông huyết mạch chi viện của miền bắc cho miền nam. Chỉ trong hai ngày (3 và 4-4-1965), Mỹ đã huy động 454 lượt máy bay ném bom rải thảm xuống vùng đất này. Và trong cuộc chiến đấu ác liệt, bằng lòng dũng cảm và lưới lửa phòng không, quân và dân Hàm Rồng đã làm nên chiến công lịch sử bắn hạ 47 “con quạ sắt”. Cũng từ đó, Hàm Rồng trở thành một trong những nơi đối đầu quyết liệt nhất giữa không lực Mỹ với lực lượng phòng không của quân và dân Việt Nam. Hàng chục nghìn tấn bom đã trút xuống mảnh đất này nhưng không thể khuất phục ý chí của quân và dân Hàm Rồng.
Năm 1972, trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai, Mỹ vẫn điên cuồng trút xuống cây cầu và khu vực chung quanh hàng trăm nghìn tấn bom đạn. Chùa chiền, miếu mạo, nhà thờ, bệnh viện, trường học… đều trở thành mục tiêu ném bom. Mùa hè năm ấy đến sớm, chưa đến Tết Đoan ngọ mà nắng nóng như đổ lửa, những cơn mưa đầu tiên báo hiệu một mùa bão lũ khắc nghiệt. Kỳ thi cuối cấp đã hoàn thành, nhiều người trong đó phần lớn là nam sinh vừa tốt nghiệp phổ thông, kể cả những giáo sinh, giáo viên đã từ biệt quê hương đi vào tuyến lửa theo tiếng gọi của miền nam ruột thịt. Đúng lúc ấy thì có công lệnh điều động mọi người đi đắp đê ứng cứu sông Mã.
Mùa mưa năm 1972, nước sông Mã dâng cao, trong khi trước đó mấy tháng, Mỹ đã bắn phá cầu Hàm Rồng, làm đê sông Mã bị tàn phá nghiêm trọng. Nguy cơ gây vỡ đê, ngập lụt khắp Thanh Hóa và vùng phụ cận là rất lớn. Để bảo đảm tuyến giao thông huyết mạch phục vụ chiến trường miền nam và phòng, chống lũ lụt, ngay trong thời điểm máy bay Mỹ đánh phá dữ dội, chính quyền tỉnh Thanh Hóa vẫn huy động lực lượng khẩn cấp bồi đắp đoạn đê sông Mã xung yếu từ Nam Ngạn đến Hàm Rồng. Theo những nhân chứng kể lại, lực lượng tham gia đắp đê lúc đó có hơn 2.000 người, trong đó riêng huyện Đông Sơn có 1.000 người, còn lại là giáo viên, sinh viên, học sinh của các trường ở thị xã Thanh Hóa và huyện Đông Sơn, Hoằng Hóa, vì những lực lượng khác đã tham gia vào các đơn vị chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng.
Buổi sáng kinh hoàng
Bà Trần Thị Tâm, người đã thoát chết trong trận bom lịch sử ngày 14-6-1972 kể lại: “Khoảng chín giờ sáng, khi chúng tôi vừa hết giờ giải lao trên công trường đắp đê Nam Ngạn – Hàm Rồng thì phát hiện hàng đàn máy bay địch trên trời. Tôi còn kịp nhìn rõ ràng chuỗi bom từ bụng những “con ma, thần sấm” kia nhả ra, rơi xuống… Sau loạt bom thứ nhất, tôi tỉnh dậy, ngẩng đầu lên chỉ thấy khói đen ngòm, mù tịt. Và tôi lại bị vùi xuống bùn lúc nào không biết sau các đượt bom tiếp theo”. Theo thống kê thì lần đó máy bay Mỹ đã thả 24 loạt bom trải dài trên cả cây số xuống đầu hơn 2.000 con người không có sức kháng cự.
“Bạn bè, đồng nghiệp của chúng tôi đã ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ. Sau trận thảm sát kinh hoàng đó, hầu hết những người tham gia công trường nếu còn sống thì đều bị thương, nhưng đều nỗ lực làm tốt hơn công việc để làm thay và tri ân với người nằm xuống. Bản thân tôi chứng kiến, có nhiều giáo viên bị thương nặng, nhưng sau khi được điều trị tại bệnh viện đã vội vã trở lại bục giảng, vì nhớ trường lớp và học trò”, bà Nguyễn Thị Lan, nguyên giáo viên, nghẹn ngào nói về những người thầy, những người bạn đã vĩnh viễn gửi lại thân mình cho quê hương và dòng sông Mã.
Chúng tôi tìm đến một nhà cô giáo khác, cũng tên Lan, ở khu chung cư cũ Phan Chu Trinh, ngay sát khu chợ Điện Biên, TP Thanh Hóa. Bà kể lại: “Năm ấy tôi chưa tròn 20 tuổi và đang là giáo sinh Trường Sư phạm 7+3 ở Quảng Minh (Quảng Xương). Tôi còn nhớ đàn máy bay Mỹ bất thình lình xuất hiện. Không ai kịp trở tay. Tôi chỉ nghe tiếng nổ kinh hoàng rồi ngất lịm. Sauk hi tỉnh lại tôi mới biết mình bị bom lia mât cả mảng đầu. Tôi bị thương nặng, bất tỉnh suốt 21 ngày. Sau đó còn phải nằm viện hơn ba tháng. Tôi không nhớ rõ đã có bao nhiêu người đã ngã xuống hôm ấy. Chỉ riêng lớp Toán – Lý B trường tôi đã có 11 người hy sinh. Còn hầu như tất cả mọi người đều bị thương ở các mức khác nhau”.
Từ câu chuyện của bà Lan, chúng tôi đã tìm đến nhà hơn chục nhân chứng của vụ thảm sát kinh hoàng ngày 14-6-1972 ở nhiều địa phương của Thanh Hóa hay đang công tác hoặc nghỉ hưu ở Hà Nội. Tất cả những nhân chứng chúng tôi gặp đều kể câu chuyện đau xót về cái chết của cô giáo Mĩ An, khi ấy đang là giảng viên Trường Sư phạm 7+3.
Cô giáo Mĩ An là người Quảng Bình. Tốt nghiệp Trường đại học Sư phạm Vinh, cô được điều về Thanh Hóa công tác. Khi ấy cô là giáo viên trẻ nhất trường. Cô sống chan hòa với tất cả các giáo sinh. Trong giờ học, trên giảng đường thì là cô trò, về đến nhà trọ thì coi nhau như chị em. Cô Mĩ An hát rất hay. Ấn tượng nhất về cô đối với các sinh viên là đôi bím tóc rất hồn nhiên luôn cài chiếc nơ điệu đà hình con bướm. Lần đi ứng cứu đê định mệnh năm ấy cô luôn động viên mọi người hăng hái lao động.
Trận bom của giặc Mỹ ngày 14-6 đã cướp cô đi mãi mãi. Khi tiếng bom ngớt, trong màn khói nước và bùn loang mùa mịt mọi người bổ đi tìm cô nhưng họ chỉ tìm thấy hai bím tóc có cài nơ con bướm. Và một bàn chân đã lìa khỏi thân mình. Sở dĩ mọi người nhận ra bàn chân của cô vì nó nhỏ xinh chỉ phù hơp đôi guốc cỡ 35, cỡ guốc dành cho thiếu niên. Còn thi thể cô đã tan vào bùn đất Nam Ngạn. Ngôi mộ của cô chỉ có một bàn chân và hai bím tóc. Nhưng điều làm mọi người không cầm nổi lòng mình khi nghĩ về sự hy sinh của cô giáo trẻ Mĩ An là trong hành lý của cô còn nguyên một xấp thiệp cưới chưa kịp mời mọi người.
Chiến tranh vẫn mãi là những vết thương đã liền da nhưng còn đau âm ỉ, cái chết của cô Mĩ An cùng những tấm thiệp cưới vĩnh viễn không được gửi là câu chuyện mà hầu hết các nhân chứng chúng tôi gặp đều nhắc tới. Nó là đỉnh điểm của nỗi đau và sự ám ảnh về chiến tranh
Theo Thời nay


Cô giáo Dương Thị Huệ, nguyên giáo viên Trường PTTH Lam Sơn (nay là Trường T

















