I. Thực trạng và vướng mắc trong kiểm sát
Tranh chấp nội bộ công ty liên quan đến việc thành lập, hoạt động, tổ chức lại, giải thể và chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hiện là một trong những dạng tranh chấp phổ biến trong lĩnh vực kinh doanh thương mại. Trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng phát triển, loại tranh chấp này có xu hướng gia tăng cả về số lượng và tính chất phức tạp. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy hệ thống pháp luật điều chỉnh vẫn còn tồn tại những bất cập như mâu thuẫn, thiếu đồng bộ; việc áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và Viện kiểm sát nhân dân nói riêng.
Từ nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, các tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án tranh chấp nội bộ công ty. Mặc dù pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về khái niệm tranh chấp nội bộ công ty, song có thể hiểu đây là các mâu thuẫn về lợi ích phát sinh giữa công ty với thành viên; giữa công ty với người quản lý; hoặc giữa các thành viên với nhau, liên quan đến việc thành lập, tổ chức quản lý, hoạt động, tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp.

Qua công tác kiểm sát, Viện kiểm sát đã phát hiện một số vi phạm trong quá trình giải quyết của Tòa án như: không đưa đầy đủ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng; sai sót trong việc thu thập, xác minh chứng cứ; xác định chưa chính xác quan hệ pháp luật tranh chấp; tuyên án thiếu cụ thể, rõ ràng.
Đáng chú ý, có trường hợp bản án chỉ tuyên buộc đương sự “bàn giao tài sản theo quy định của pháp luật” mà không xác định rõ phạm vi tài sản, gây khó khăn cho công tác thi hành án. Trong khi đó, theo quy định, tài sản của doanh nghiệp bao gồm cả nguồn vốn và các tài sản khác như con dấu, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tổ chức, quản lý và hoạt động của công ty.
Công tác kiểm sát các vụ án tranh chấp nội bộ công ty vẫn còn một số hạn chế như việc ban hành kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm chưa kịp thời; việc phát hiện vi phạm để kiến nghị sửa, hủy bản án chưa đáp ứng yêu cầu.
Nguyên nhân chủ yếu do tính chất phức tạp của loại án này, đòi hỏi phải nghiên cứu sâu hồ sơ; hệ thống pháp luật còn chồng chéo, thiếu thống nhất; nhận thức và áp dụng pháp luật giữa các cơ quan tiến hành tố tụng chưa đồng bộ. Bên cạnh đó, số lượng án gia tăng trong khi nguồn nhân lực còn hạn chế, thiếu Kiểm sát viên có chuyên môn và kinh nghiệm, ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị.
1.Vướng mắc trong áp dụng pháp luật
Về thẩm quyền giải quyết: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung nhằm làm rõ các tranh chấp kinh doanh thương mại, bảo đảm phù hợp với Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp và phân biệt với tranh chấp dân sự.
Tuy nhiên, thực tiễn vẫn phát sinh vướng mắc trong việc xác định thẩm quyền giải quyết. Điển hình là trường hợp công ty khởi kiện thành viên (giám đốc chi nhánh) yêu cầu hoàn trả số tiền đã chuyển để phục vụ hoạt động của công ty. Hiện tồn tại hai quan điểm khác nhau: một quan điểm xác định đây là tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty nên thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh; quan điểm khác lại cho rằng đây là tranh chấp dân sự đòi tài sản phát sinh từ quan hệ nội bộ, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện theo nơi cư trú của bị đơn.
Sự chưa thống nhất trong cách xác định quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết nêu trên đã gây khó khăn trong thực tiễn thụ lý và giải quyết các vụ án.
2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp
Theo khoản 27 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020, “phần vốn góp” được hiểu là vốn tại công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty hợp danh, không bao gồm cổ phần của công ty cổ phần. Từ đó, trong thực tiễn xét xử, một số Tòa án xác định tranh chấp chuyển nhượng phần vốn góp thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; trong khi đó, đối với tranh chấp chuyển nhượng cổ phần lại cho rằng không thuộc trường hợp này và xác định thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện.
Tuy nhiên, các quy định tại khoản 33, khoản 34 Điều 4 và điểm a khoản 1 Điều 111 Luật Doanh nghiệp cho thấy vốn của doanh nghiệp không chỉ bao gồm phần vốn góp mà còn bao gồm cả cổ phần. Về bản chất, dù là phần vốn góp hay cổ phần thì đều là bộ phận cấu thành vốn điều lệ của doanh nghiệp.
Do đó, tranh chấp liên quan đến chuyển nhượng cổ phần có thể được xem là tương đồng với tranh chấp về chuyển nhượng phần vốn góp theo khoản 3 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp tỉnh.
Ngoài ra, quy định tại khoản 3 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vẫn chưa bao quát đầy đủ các chủ thể và dạng tranh chấp phát sinh trên thực tế, như tranh chấp giữa các thành viên công ty với nhau hoặc các tranh chấp liên quan đến thế chấp, thừa kế, tặng cho, công nhận hoặc hủy bỏ quyền đối với phần vốn góp, cổ phần. Điều này đặt ra yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm thống nhất trong nhận thức và áp dụng.
3. Hủy nghị quyết doanh nghiệp: Vướng mắc xác định tranh chấp
Tuy nhiên, trình tự, thủ tục ban hành Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên là một trong những vấn đề quan trọng trong hoạt động của Công ty, liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều thành viên, cổ đông trong Công ty. Trên thực tế tranh chấp liên quan đến vấn đề này xảy ra rất gay gắt nên nếu giải quyết theo trình tự, thủ tục của việc KDTM sẽ không phản ánh đúng bản chất của vụ việc.

Về phạm vi xét xử phúc thẩm, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét phần bản án, quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị. Những phần không có kháng cáo, kháng nghị sẽ không thuộc phạm vi xem xét.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, có trường hợp phát hiện vi phạm pháp luật nghiêm trọng ở phần không bị kháng cáo, kháng nghị nhưng Tòa án cấp phúc thẩm không có thẩm quyền hủy mà phải kiến nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Điều này dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết vụ án, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước và các đương sự.
Về áp dụng Luật Doanh nghiệp: Khoản 3 Điều 154 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định các thành viên Hội đồng quản trị tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cho đến khi có thành viên mới được bầu thay thế, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác.
Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện tồn tại hai cách hiểu khác nhau. Một quan điểm cho rằng các thành viên chỉ tiếp tục tư cách thành viên Hội đồng quản trị, còn các chức danh quản lý như Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc phải được bầu, bổ nhiệm lại. Quan điểm khác lại cho rằng các chức danh này vẫn được duy trì mà không cần thực hiện lại thủ tục.
Sự chưa thống nhất trong cách hiểu và áp dụng quy định này tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tranh chấp trong nội bộ Hội đồng quản trị, ảnh hưởng đến hoạt động quản trị và điều hành doanh nghiệp.
Về thời hạn góp vốn trong Công ty cổ phần: Theo khoản 1 Điều 113 Luật Doanh nghiệp năm 2020, cổ đông phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Tài sản góp vốn có thể là tiền, vàng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ và các tài sản khác có thể định giá được.
Tuy nhiên, quy định hiện hành chưa tính đến thời gian vận chuyển, nhập khẩu tài sản và thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu. Điều này có thể dẫn đến việc kéo dài thời hạn góp vốn trên thực tế, ảnh hưởng đến tính minh bạch và ổn định trong hoạt động của doanh nghiệp.
Về quyền tiếp cận thông tin của cổ đông: Theo quy định tại Điều 115 Luật Doanh nghiệp năm 2020, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 5% cổ phần phổ thông trở lên (hoặc tỷ lệ thấp hơn theo Điều lệ công ty) có quyền xem xét, tra cứu nhiều tài liệu của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các cổ đông không được tiếp cận những tài liệu liên quan đến “bí mật thương mại, bí mật kinh doanh”.
Trong khi pháp luật đã có quy định cụ thể về “bí mật kinh doanh”, thì khái niệm “bí mật thương mại” vẫn chưa được làm rõ. Sự thiếu thống nhất này tiềm ẩn nguy cơ bị lạm dụng trong thực tiễn, khi doanh nghiệp có thể viện dẫn lý do bảo mật để từ chối cung cấp thông tin cho cổ đông, qua đó ảnh hưởng đến quyền tiếp cận thông tin, quyền giám sát và bảo vệ lợi ích hợp pháp của cổ đông trong công ty.
4. Tham dự và biểu quyết tại ĐHĐCĐ
Pháp luật hiện hành chưa quy định rõ về việc xác định cổ đông tham dự cuộc họp Đại hội đồng cổ đông. Trên thực tế, có trường hợp cổ đông đã đăng ký và tham dự cuộc họp nhưng rời khỏi giữa chừng, không bỏ phiếu hoặc không thực hiện biểu quyết trực tuyến.
Thực trạng này dẫn đến khó khăn trong việc xác định chính xác số cổ đông tham dự để làm căn cứ tính tỷ lệ biểu quyết theo quy định tại Điều 148 Luật Doanh nghiệp năm 2020, từ đó ảnh hưởng đến tính hợp pháp và hiệu lực của các nghị quyết được thông qua.
5. Thời điểm xác lập tư cách thành viên
Theo khoản 5 Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2020, người góp vốn chỉ được công nhận là thành viên công ty khi đã hoàn thành việc góp vốn và thông tin của họ được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên. Trường hợp chưa được ghi nhận đầy đủ theo quy định thì chưa được xác lập tư cách thành viên và chưa được thực hiện các quyền của thành viên công ty. Quy định này trong thực tiễn có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền của cá nhân, tổ chức góp vốn, đồng thời tác động đến việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Đối với trường hợp nhận chuyển nhượng phần vốn góp, khoản 2 Điều 52 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định bên chuyển nhượng vẫn có quyền, nghĩa vụ liên quan cho đến khi thông tin của bên nhận chuyển nhượng được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên. Tuy nhiên, quy định này chưa thống nhất với khoản 29 Điều 4 của Luật Doanh nghiệp, theo đó thành viên công ty được xác định là người sở hữu phần vốn điều lệ mà không phụ thuộc vào việc đã được ghi nhận trong sổ đăng ký thành viên hay chưa.
Sự chưa thống nhất giữa các quy định nêu trên có thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng pháp luật khác nhau trong thực tiễn, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tranh chấp liên quan đến tư cách thành viên cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên trong công ty.
II. Một số giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án tranh chấp nội bộ công ty.
Tăng cường vai trò lãnh đạo trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành đối với công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại nói chung và các vụ án tranh chấp nội bộ công ty nói riêng bảo đảm nâng cao chất lượng, tiến độ của công tác này. Phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm của Viện trưởng với nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong thực hiện nhiệm vụ để hạn chế tình trạng Kiểm sát viên thiếu chủ động, dựa dẫm, ý lại vào sự chỉ đạo của lãnh đạo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ cho Kiểm sát viên những kiến chuyên sâu về các tranh chấp kinh doanh thương mại, tranh chấp nội bộ công ty. Các hình thức đào tạo bồi dưỡng cần thực hiện linh hoạt từ việc đào tạo tại các cơ sở đào tạo với việc đào tạo, tổ chức các cuộc hội thảo, các lớp tập huấn chuyên sâu, xây dựng các tài liệu bồi dưỡng về kỹ năng kiểm sát việc giải quyết đối với mỗi loại án, dạng tranh chấp có tính chất đặc thù, có nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn giải quyết.
1. Tăng cường tổng kết thực tiễn và hoàn thiện cơ chế kiến nghị
Cần đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm đối với các dạng vi phạm đã được phát hiện trong quá trình kiểm sát; kịp thời nhân rộng những bài học, kinh nghiệm hiệu quả để phổ biến trong toàn Ngành, làm cơ sở tham khảo và vận dụng thống nhất trong thực tiễn. Đồng thời, tăng cường thông báo rút kinh nghiệm, đặc biệt đối với các vụ việc mới phát sinh hoặc các vi phạm mang tính phổ biến.
Bên cạnh đó, cần chú trọng việc ban hành kiến nghị khắc phục vi phạm, nhất là đối với các cơ quan ngoài ngành tư pháp như Ủy ban nhân dân, tổ chức công chứng, ngân hàng, Sở Kế hoạch và Đầu tư… nhằm khắc phục những sơ hở, thiếu sót trong quy định và công tác quản lý, qua đó góp phần phòng ngừa, hạn chế phát sinh tranh chấp, khiếu kiện. Công tác sơ kết, tổng kết và xây dựng các chuyên đề nghiệp vụ cũng cần được triển khai thường xuyên, bài bản.
Cùng với đó, cần tổng hợp đầy đủ những khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn cũng như những bất cập trong các quy định pháp luật để kiến nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan Trung ương ban hành văn bản hướng dẫn. Việc hoàn thiện pháp luật cần được thực hiện theo hướng bảo đảm tính đồng bộ giữa Luật Doanh nghiệp và các bộ luật có liên quan, tạo thuận lợi cho Thẩm phán và Kiểm sát viên trong quá trình thụ lý, giải quyết và kiểm sát các vụ án kinh doanh thương mại, đặc biệt là các tranh chấp nội bộ công ty.
Xây dựng mối quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa Viện kiểm sát các cấp, Việc xây dựng mối quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa Viện kiểm sát các cấp, giữa Viện kiểm sát với Tòa án và các cơ quan, tổ chức hữu quan có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giải quyết án. Hoạt động phối hợp cần bảo đảm tuân thủ đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan theo quy định của pháp luật; đồng thời đề cao nguyên tắc tôn trọng, hỗ trợ lẫn nhau trong thực hiện nhiệm vụ.
Trong thực tiễn, sự phối hợp này càng có vai trò thiết yếu đối với các vụ việc phức tạp, có nhiều quan điểm khác nhau hoặc trong những trường hợp pháp luật chưa quy định cụ thể, rõ ràng. Qua đó góp phần bảo đảm việc áp dụng pháp luật và giải quyết tranh chấp được chính xác, thống nhất.
Bên cạnh việc xây dựng và thực hiện các quy chế phối hợp, mỗi Viện kiểm sát và Kiểm sát viên cần chủ động, linh hoạt trong tổ chức thực hiện thông qua nhiều hình thức như trao đổi trực tiếp, trao đổi qua thư điện tử, gửi công văn đề nghị phối hợp; đồng thời chủ động cung cấp thông tin, tài liệu và kết quả giải quyết thuộc phạm vi trách nhiệm của mình. Việc tăng cường tổ chức các cuộc họp liên ngành, phối hợp giữa các đơn vị tham mưu và đơn vị nghiệp vụ cũng là giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm hoạt động phối hợp được kịp thời, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
2. Hoàn thiện cơ chế bảo đảm và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
Để nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại, đặc biệt là tranh chấp nội bộ công ty, cần tăng cường các điều kiện bảo đảm thực hiện như đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc, đồng thời thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách đối với ngũ công chức trực tiếp thực hiện nhiệm vụ này.

Đối với Quốc hội, cần tiếp tục quan tâm hoàn thiện hệ thống pháp luật cả về tố tụng và nội dung, nhất là các quy định liên quan đến tổ chức, hoạt động của doanh nghiệp và thẩm quyền giải quyết các vụ án tranh chấp nội bộ công ty. Trước hết, cần ban hành văn bản hướng dẫn xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty liên quan đến hoạt động của công ty theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, theo hướng xác định đây là tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh. Đồng thời, nghiên cứu sửa đổi khoản 3, khoản 4 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự nhằm bảo đảm tính đồng bộ với Luật Doanh nghiệp, phù hợp với thực tiễn và thống nhất trong nhận thức, áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Bên cạnh đó, cần sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự theo hướng xác định yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng thành viên là vụ án kinh doanh thương mại; đồng thời bổ sung quy định về phạm vi xét xử phúc thẩm theo hướng cho phép Tòa án cấp phúc thẩm được xem xét cả những phần bản án, quyết định sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị khi phát hiện vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
Đối với Chính phủ, cần tăng cường chỉ đạo các bộ, ngành chức năng phối hợp chặt chẽ trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ phục vụ quá trình thụ lý, giải quyết các vụ án, nhất là các vụ án có yếu tố nước ngoài, bảo đảm kịp thời, chính xác. Đồng thời, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động của doanh nghiệp; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các kết luận thanh tra, kiểm tra nhằm kịp thời phát hiện, xử lý dứt điểm các vi phạm, không để kéo dài.
Đối với Tòa án nhân dân tối cao, cần tăng cường công tác hướng dẫn áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án tranh chấp nội bộ công ty; nghiên cứu, ban hành án lệ mang tính định hướng đối với những trường hợp chưa có quy định cụ thể. Đồng thời, chú trọng nâng cao chất lượng công tác hòa giải, tạo điều kiện để các bên đương sự đối thoại, góp phần rút ngắn thời gian giải quyết, tiết kiệm chi phí và công sức.
Đối với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cần tăng cường chỉ đạo tổ chức các hội nghị, hội thảo, lớp tập huấn chuyên sâu về nghiệp vụ, đặc biệt là pháp luật nội dung; xây dựng, hoàn thiện hệ thống tài liệu, giáo trình hướng dẫn về trình tự, thủ tục và phương thức kiểm sát đối với các vụ án kinh doanh thương mại, nhất là tranh chấp nội bộ công ty. Đồng thời, chủ động phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao trong việc hướng dẫn, giải đáp những khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn, bảo đảm thống nhất nhận thức và áp dụng pháp luật trong toàn hệ thống.
Đối với Luật Doanh nghiệp, cần nghiên cứu sửa đổi theo hướng tính cả thời gian vận chuyển, nhập khẩu tài sản góp vốn và thời gian thực hiện thủ tục hành chính chuyển quyền sở hữu tài sản vào thời hạn góp vốn; đồng thời ban hành văn bản hướng dẫn, làm rõ khái niệm “bí mật thương mại” nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của cổ đông trong công ty cổ phần.
Ngoài ra, cần sửa đổi quy định về thời điểm xác lập tư cách thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên theo hướng: người góp vốn trở thành thành viên kể từ thời điểm đã hoàn thành nghĩa vụ góp vốn và được công ty xác nhận, tạo điều kiện để thực hiện đầy đủ quyền của thành viên trước khi hoàn tất việc ghi nhận trong sổ đăng ký thành viên. Đồng thời, cần quan tâm bố trí đủ biên chế và kinh phí để đáp ứng yêu cầu đặc thù của Viện kiểm sát và Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc kinh doanh thương mại nói chung và tranh chấp nội bộ công ty nói riêng.
Thu Hòa - An Mây (Kiểm sát viên trung cấp Vụ 9)






















