Thị trường trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ cũng đang cho thấy sự trở lại rõ nét của nhóm ngân hàng. Riêng tháng 7/2026, các tổ chức tín dụng thực hiện 13 đợt phát hành với tổng giá trị 7.900 tỷ đồng, chiếm khoảng 63% tổng giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ trong tháng.

Diễn biến này cho thấy trái phiếu đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chiến lược huy động vốn của ngân hàng, đặc biệt khi nhu cầu tín dụng của nền kinh tế tiếp tục duy trì ở mức cao.

Các ngân hàng đang đẩy mạnh huy động vốn qua trái phiếu trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động.
Các ngân hàng đang đẩy mạnh huy động vốn qua trái phiếu trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Ảnh minh họa

Tín dụng tăng nhanh, ngân hàng tìm thêm nguồn vốn

Theo số liệu công bố trên HNX, tháng 7 có 19 đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ với tổng giá trị 12.539 tỷ đồng. Trong đó, ngân hàng chiếm phần lớn với 13 đợt phát hành, huy động 7.900 tỷ đồng.

Đáng chú ý, quy mô phát hành của nhóm ngân hàng tăng trở lại sau giai đoạn bất động sản chiếm tỷ trọng lớn hơn trên thị trường trái phiếu trong nửa đầu năm.

Ở phía cầu vốn, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đến ngày 31/7 đạt gần 20,3 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với cuối năm 2025. Trong khi đó, tốc độ tăng huy động vốn chưa theo kịp tín dụng. Khoảng cách giữa hai nguồn vốn khiến các ngân hàng phải tìm kiếm thêm kênh huy động nhằm đảm bảo nguồn lực cho hoạt động cho vay.

Trái phiếu có lợi thế ở chỗ giúp ngân hàng tiếp cận nguồn vốn với kỳ hạn dài hơn tiền gửi thông thường. Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng khi các tổ chức tín dụng phải cân đối nguồn vốn cho các khoản vay trung và dài hạn, đồng thời đáp ứng các yêu cầu ngày càng chặt chẽ về an toàn thanh khoản và cơ cấu nguồn vốn.

Một loạt ngân hàng đã liên tục đưa ra kế hoạch huy động vốn quy mô lớn qua kênh này.

Sacombank vừa hoàn tất phát hành ba lô trái phiếu STB12606, STB12607 và STB12608, đều có kỳ hạn 6 năm và lãi suất cố định 10%/năm. Tổng số tiền ngân hàng huy động qua ba lô trái phiếu đạt 3.650 tỷ đồng.

HDBank cũng lên kế hoạch chào bán 100 triệu trái phiếu với tổng giá trị dự kiến 10.000 tỷ đồng qua hai đợt. BIDV trước đó chào bán gần 37 triệu trái phiếu, tương đương gần 3.699 tỷ đồng theo mệnh giá, song thực tế phân phối được hơn 13,65 triệu trái phiếu và thu về 1.365 tỷ đồng.

Ở quy mô lớn hơn, LPBank huy động 10.100 tỷ đồng, trong đó phần lớn là trái phiếu kỳ hạn 3 năm với lãi suất 8,6%/năm. Techcombank huy động thêm 9.000 tỷ đồng, nâng tổng giá trị phát hành từ đầu năm lên 25.000 tỷ đồng, trong khi VPBank thu về 4.000 tỷ đồng.

Những con số này cho thấy trái phiếu đang trở thành một kênh huy động vốn đáng kể bên cạnh tiền gửi, đặc biệt đối với các ngân hàng có nhu cầu mở rộng quy mô tài sản và tăng vốn phục vụ tín dụng.

Cuộc đua vốn dài hạn còn tiếp diễn

Không chỉ tăng về số lượng, mặt bằng lãi suất trái phiếu cũng có xu hướng đi lên. Theo VCBS, lãi suất phát hành trái phiếu doanh nghiệp bình quân hiện khoảng 9,9%/năm. Riêng nhóm ngân hàng phổ biến quanh mức 9%/năm, thấp hơn đáng kể so với mức khoảng 12,5%/năm của nhóm bất động sản.

Mức lãi suất này phản ánh sự cạnh tranh trong việc thu hút dòng tiền trên thị trường vốn. Khi các ngân hàng cùng tăng nhu cầu huy động, chi phí vốn trở thành một yếu tố cần được tính toán kỹ, bởi lãi suất phát hành cao sẽ tác động trực tiếp đến chi phí đầu vào và hiệu quả sử dụng vốn.

Dù vậy, triển vọng của thị trường trái phiếu ngân hàng vẫn được hỗ trợ bởi nhu cầu vốn lớn của nền kinh tế.

Số liệu từ VBMA cho thấy, riêng tháng 6, thị trường ghi nhận 41 đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp với tổng giá trị gần 44.000 tỷ đồng. Lũy kế 6 tháng đầu năm, tổng giá trị phát hành đạt gần 213.000 tỷ đồng, trong đó phát hành riêng lẻ chiếm phần lớn.

Trong bối cảnh tín dụng tiếp tục tăng trưởng nhanh, các ngân hàng sẽ phải đồng thời giải quyết hai bài toán: đảm bảo nguồn vốn cho tăng trưởng và kiểm soát chi phí huy động. Tiền gửi vẫn là nguồn vốn chủ lực, nhưng việc bổ sung trái phiếu giúp các tổ chức tín dụng đa dạng hóa nguồn vốn, kéo dài kỳ hạn và giảm sự phụ thuộc quá lớn vào tiền gửi ngắn hạn.

Tuy nhiên, quy mô phát hành tăng cũng đồng nghĩa với yêu cầu sử dụng vốn hiệu quả hơn. Nguồn vốn trái phiếu thường có kỳ hạn dài và chi phí cố định, vì vậy nếu dòng tiền được phân bổ vào các khoản tín dụng không tạo ra hiệu quả tương xứng, ngân hàng có thể chịu thêm áp lực về chi phí và khả năng sinh lời.

Vì vậy, cuộc đua huy động vốn qua trái phiếu trong nửa cuối năm sẽ không chỉ được đo bằng số tiền ngân hàng gọi được từ thị trường. Quan trọng hơn là khả năng chuyển nguồn vốn dài hạn này thành tăng trưởng tài sản có chất lượng, kiểm soát rủi ro và duy trì hiệu quả kinh doanh.

Trong bối cảnh tín dụng được kỳ vọng tiếp tục duy trì tốc độ tăng cao, thị trường trái phiếu ngân hàng nhiều khả năng sẽ còn sôi động. Hàng nghìn tỷ đồng vốn mới có thể tiếp tục được huy động, mở thêm dư địa cho hoạt động cho vay nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với quản trị nguồn vốn và thanh khoản của từng ngân hàng.

Minh Thành (t/h)