Điều chỉnh để tránh “nóng” tín dụng
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, trong năm 2026, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống được định hướng ở mức khoảng 15%, có thể điều chỉnh tăng hoặc giảm tùy theo tình hình thực tế. Việc điều hành sẽ bám sát mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Thông tin này thu hút sự quan tâm lớn từ cộng đồng doanh nghiệp và thị trường tài chính, trong bối cảnh Quốc hội đã thông qua mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên cho năm 2026, đi kèm yêu cầu kiểm soát lạm phát quanh mức 4,5%.
Năm 2025, tín dụng toàn hệ thống tăng khoảng 19,01%, góp phần quan trọng đưa tăng trưởng GDP đạt 8,02%. Tuy nhiên, mức tăng cao này cũng làm gia tăng lo ngại về nguy cơ tín dụng nóng, áp lực nợ xấu và rủi ro lạm phát nếu xu hướng nới lỏng kéo dài.

Trong bối cảnh đó, việc NHNN định hướng tăng trưởng tín dụng ở mức khoảng 15% được đánh giá là bước điều chỉnh cần thiết nhằm cân bằng giữa yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng cao và mục tiêu giữ vững ổn định vĩ mô, an toàn hệ thống tài chính – ngân hàng.
Trao đổi với báo chí, TS Võ Trí Thành, chuyên gia kinh tế, cho rằng định hướng tăng trưởng tín dụng linh hoạt theo diễn biến thực tế là phù hợp trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định. Theo ông, con số 15% không chỉ mang tính kỹ thuật mà còn hàm chứa thông điệp điều hành rõ ràng.
Thứ nhất, chính sách tiền tệ tiếp tục lấy ổn định kinh tế vĩ mô làm nền tảng cho tăng trưởng bền vững. Thứ hai, cách điều hành mềm mại, uyển chuyển giúp hạn chế các cú sốc chính sách có thể gây xáo trộn thị trường. Thứ ba, trong khuôn khổ ổn định vĩ mô, tín dụng vẫn đóng vai trò hỗ trợ quan trọng cho doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế.
15% vẫn là lượng vốn rất lớn cho nền kinh tế
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Phương, giảng viên Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, mức tăng trưởng tín dụng 15% trong năm 2026 tương đương khoảng 2,79 triệu tỷ đồng vốn mới được bơm vào nền kinh tế. Dù thấp hơn khoảng 183.000 tỷ đồng so với mức tăng của năm 2025, đây vẫn là quy mô vốn rất lớn.
Việc NHNN cho phép điều chỉnh tăng hoặc giảm tín dụng tùy theo diễn biến lạm phát, tỷ giá và khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp sẽ tạo dư địa để cơ quan điều hành linh hoạt “rút – bơm” mà không cần thay đổi định hướng chính sách ban đầu.
“Ở góc độ này, mức 15% là tương đối hợp lý, không quá chặt nhưng cũng không quá nới lỏng để đẩy rủi ro tài chính lên mức khó kiểm soát”, ông Phương nhận định. 
Quốc hội và Chính phủ đã xác định rõ các động lực tăng trưởng mới cho năm 2026, bao gồm đẩy mạnh đầu tư công, nâng tỷ trọng công nghiệp chế biến – chế tạo, thúc đẩy kinh tế số, kinh tế xanh, mở rộng xuất khẩu và kích cầu tiêu dùng nội địa. Trong bức tranh đó, tín dụng ngân hàng vẫn là kênh cung ứng vốn chủ đạo nhưng không còn “gánh” toàn bộ vai trò như trước, khi thị trường vốn và các kênh huy động xã hội khác được kỳ vọng phát triển mạnh hơn.
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Phương, mức tăng 15% sẽ đủ lực nếu dòng vốn được dẫn dắt vào những khu vực có hệ số lan tỏa cao như chế biến – chế tạo, xuất khẩu, nông nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa, các dự án chuyển đổi số và xanh hóa sản xuất, thay vì chảy vào đầu cơ tài sản hay các lĩnh vực rủi ro cao.
“Nắn” tín dụng vào lĩnh vực ưu tiên
Cùng quan điểm, TS Nguyễn Văn Lộc, giảng viên Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng nếu dòng vốn được định hướng đúng chỗ, mỗi đồng tín dụng có thể tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn cho nền kinh tế. Điều này giúp mục tiêu tăng trưởng hai con số có nền tảng vững chắc, ngay cả khi tổng dư nợ chỉ tăng ở mức 15%.
Theo ông Lộc, mức tăng trưởng này tạo đủ không gian để các ngân hàng hỗ trợ doanh nghiệp, với điều kiện dòng vốn được điều tiết đúng hướng và song hành với nỗ lực tự thân của khu vực sản xuất trong việc nâng cao quản trị, minh bạch tài chính và thích ứng với các chuẩn tín dụng mới.
Việc NHNN nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát chặt dòng vốn vào bất động sản và các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro được xem là tín hiệu chính sách quan trọng mà doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý. Theo TS Nguyễn Văn Lộc, cơ quan điều hành không siết tín dụng bất động sản một cách cực đoan, mà phân biệt rõ giữa nhu cầu vốn phục vụ an sinh và nhu cầu vốn mang tính đầu cơ.
Theo đó, các dự án nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo chung cư cũ hoặc khu đô thị đồng bộ hạ tầng vẫn được khuyến khích tiếp cận vốn tín dụng, với điều kiện pháp lý minh bạch, dòng tiền rõ ràng và chủ đầu tư có năng lực tài chính thực sự.
Đối với doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh, đây là thời điểm cần tái cấu trúc quan hệ với ngân hàng theo hướng chuyên nghiệp hơn. Định hướng ưu tiên vốn cho sản xuất chỉ trở thành lợi thế khi doanh nghiệp nâng cao minh bạch tài chính, chuẩn hóa quản trị và xây dựng được phương án kinh doanh khả thi, có dòng tiền bền vững.
Trong bối cảnh các ngân hàng đang dần chuyển từ cho vay dựa nhiều vào tài sản thế chấp sang cho vay dựa trên xếp hạng tín dụng nội bộ, những doanh nghiệp có uy tín, lịch sử trả nợ tốt, hệ thống kế toán rõ ràng và chiến lược phát triển dài hạn sẽ dễ tiếp cận các dòng vốn ưu tiên trong tổng “room” 15% toàn hệ thống.
Một điểm đáng chú ý khác là NHNN đang điều hành tín dụng theo quý nhằm tránh tình trạng tăng nóng đầu năm và hụt hơi cuối năm. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động làm việc sớm với ngân hàng, chuẩn bị hồ sơ ngay từ đầu năm và phân bổ nhu cầu vốn theo nhịp độ sản xuất – kinh doanh. Cách tiếp cận này không chỉ giúp doanh nghiệp giảm áp lực lãi vay mà còn tận dụng tốt hơn những thời điểm lãi suất thuận lợi trong năm.
P.T (t/h)






















