Nhà Văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Ảnh: Gia đình cung cấp.
Nhà Văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Ảnh: Gia đình cung cấp.

Bút ký – khi tri thức hóa thành cảm xúc

Nhắc đến Hoàng Phủ Ngọc Tường (1937–2023), nhiều người nhớ ngay đến Ai đã đặt tên cho dòng sông?, tác phẩm tiêu biểu cho lối bút ký giàu chất thơ. Sông Hương trong tác phẩm không chỉ là dòng chảy địa lý, mà có tính cách, tâm trạng và mang theo ký ức xứ Huế.

Từ thượng nguồn Trường Sơn đến lúc ôm lấy thành phố, dòng nước được nhà văn nhìn qua nhiều lăng kính: Địa lý, lịch sử, âm nhạc, thi ca. Hình ảnh “bản trường ca của rừng già” vừa gợi sức sống mãnh liệt, vừa khiến cảnh quan thiên nhiên mang nhịp điệu của nghệ thuật. Những liên tưởng ấy không đơn thuần làm đẹp câu văn; chúng giúp người đọc hình dung một dòng sông có đời sống riêng.

Các tác phẩm Rất nhiều ánh lửa, Hoa trái quanh tôi, Ngọn núi ảo ảnh cho thấy một cây bút ham khám phá, không bằng lòng với việc ghi chép những điều mắt thấy tai nghe. Với ông, tính xác thực là nền tảng của thể ký, nhưng sức sống của tác phẩm còn tùy thuộc vào năng lực phát hiện ý nghĩa và nghệ thuật diễn đạt.

Trong một cuộc phỏng vấn tại Huế, khi được hỏi điều gì giúp bút ký sống lâu với độc giả, ông trả lời: “Trước hết, phải có văn”. Ý kiến ngắn gọn ấy cũng là chiếc chìa khóa để hiểu vì sao người viết ký giàu cảm xúc này có thể tìm được một không gian sáng tạo khác: Nhàn đàm.

Ảnh nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường chụp tại Hội Nhà văn Việt Nam lúc sinh thời . Ảnh: Gia đình cung cấp.
Ảnh nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường chụp tại Hội Nhà văn Việt Nam lúc sinh thời . Ảnh: Gia đình cung cấp.

Nhàn đàm – câu chuyện nhỏ, chiều sâu lớn

Giữa năm 1991, sau khi thôi nhiệm vụ ở Tạp chí Cửa Việt (Quảng Trị), Hoàng Phủ Ngọc Tường vào Sài Gòn tìm cơ hội viết báo. Qua sự kết nối của nhà báo Thái Ngọc San, ông đến với Báo Thanh Niên. Tổng biên tập đề nghị ông nghĩ ra một chuyên mục và trực tiếp viết bài. Nhàn đàm ra đời từ cuộc gặp gỡ ấy.

Trong bài Tôi viết Nhàn đàm, công bố năm 2005, chính ông kể rằng lúc đầu mình muốn viết những mẩu chuyện đời thường, pha chút hài hước và phúng thế. Từ chỗ như một cuộc chuyện trò bên chén trà, các bài viết dần phát triển thành một mảng văn chương riêng. Ông gọi chúng là những “bút ký cực ngắn”, mỗi bài chỉ chứa một ý tưởng chủ đạo.

Cách định nghĩa đó đáng chú ý bởi nó nói lên sự tiếp nối với thể ký, không phải một cuộc đoạn tuyệt. Nhàn đàm ít dung lượng hơn, nhưng không vì thế mà ít lao động nghệ thuật hơn. Muốn đi từ một chuyện nhỏ đến một vấn đề lớn, người viết phải biết chọn chi tiết, tiết chế liên tưởng và dừng đúng chỗ để suy nghĩ còn vang lên sau câu cuối.

Các tập Nhàn đàm (1997), Người ham chơi (1998), Miền gái đẹp (2001) đánh dấu vị trí của mảng sáng tác này trong gia tài Hoàng Phủ Ngọc Tường. Từ trang báo, những cuộc trò chuyện mang màu sắc cá nhân ấy bước vào đời sống sách, giữ lại giọng điệu riêng của một nhà văn ham quan sát và suy tưởng.

Tác giả phỏng vấn nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường những ngày đầu năm tại Huế: “văn chương đòi hỏi cái gì... hơn cả máu!”.
Tác giả phỏng vấn nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường những ngày đầu năm tại Huế: “Văn chương đòi hỏi cái gì... hơn cả máu!”.

Một phong cách, hai nhịp điệu ngôn ngữ

Sự khác biệt giữa bút ký và nhàn đàm bộc lộ rõ nhất ở cách tổ chức ngôn ngữ. Trong Ai đã đặt tên cho dòng sông?, câu văn thường mở rộng theo hành trình cảnh vật và mạch cảm xúc. Hình ảnh nối hình ảnh, liên tưởng mở liên tưởng, đưa người đọc từ thiên nhiên đến lịch sử, từ dòng nước đến tâm hồn một miền đất.

Ở nhàn đàm, câu văn thường gần với lời trò chuyện: Có câu hỏi, lời bình, sự tự trào và cả những chuyển ý bất ngờ. Giọng viết tưởng như ung dung, đôi lúc tinh nghịch, nhưng bên trong vẫn là một mạch lập luận được dẫn dắt có chủ đích.

Trong Chim nhạn và cây thông, Hoàng Phủ Ngọc Tường đặt cạnh nhau hai hình tượng gắn với Tản Đà và Nguyễn Công Trứ. Chim nhạn gợi khát vọng tự do, tầm nhìn vượt khỏi những ràng buộc vụn vặt; cây thông gợi bản lĩnh đứng vững giữa phong ba, tinh thần dấn thân trước cuộc đời. Từ chuyện thơ xưa, ông bàn về hai thái độ xuất thế và nhập thế.

Nhà văn không tuyệt đối hóa lựa chọn nào. Chỉ mải nhập thế, con người dễ bị danh lợi cuốn đi; chỉ hướng đến xuất thế, con người có thể xa rời trách nhiệm. Ông tìm một thế cân bằng: Dấn thân, nhưng vẫn giữ khoảng cách tinh thần để nhìn rõ sự vật. Lập luận nghiêm túc ấy được diễn đạt bằng lối nói dí dỏm, khiến triết lý trở nên gần gũi.

Ở Đôi dép Empédocle, ông đi từ huyền thoại về một nhà triết học Hy Lạp đến suy ngẫm về khát vọng lưu danh. Điều cần phân biệt là sự nghiệp cống hiến với hư danh. Với người cầm bút, tên tuổi chỉ có ý nghĩa khi được bảo chứng bằng tác phẩm và trách nhiệm đối với điều mình viết. Hình tượng đôi dép cuối cùng trở thành lời nhắc: Mỗi nhà văn phải để lại dấu chân bằng chính con đường sáng tạo của mình, không đi nhờ bước chân người khác.

Bút ký có xu hướng mở rộng thế giới được khám phá, còn nhàn đàm cô đọng thế giới ấy vào một điểm suy tưởng. Một bên dào dạt hình ảnh, một bên nổi bật tính đối thoại và sự hàm súc. Song cả hai đều có chung nền tảng: Vốn văn hóa sâu rộng, sự nhạy cảm trước cái đẹp và một cái tôi nghệ sĩ không dễ nhầm lẫn.

Nhà Văn Hoàng Phủ Ngọc Tường (ngồi)- Nhà Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ( Vợ nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường(áo trắng), nhà thơ Ngô Minh, Họa Sỹ Trương Bé, Bác sỹ Tùng, tác giả và anh em văn nghệ sỹ tại Huế.
Nhà Văn Hoàng Phủ Ngọc Tường (ngồi)- Nhà Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ( Vợ nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường (áo trắng), nhà thơ Ngô Minh, Họa Sỹ Trương Bé, Bác sỹ Tùng, tác giả và anh em văn nghệ sỹ tại Huế.

Chữ “nhàn” không có nghĩa là đứng ngoài cuộc đời

Đọc nhàn đàm, dễ nhận thấy càng ung dung trong giọng điệu, Hoàng Phủ Ngọc Tường càng bộc lộ sự quan tâm đến thế sự. Từ thơ ca, chuyện bạn bè hay những thú chơi, ông có thể dẫn tới câu hỏi về nhân cách, lương tri, ứng xử văn hóa và trách nhiệm của người trí thức.

Trong cuộc trò chuyện tại Huế, ông từng nói chơi cũng là văn hóa của con người; với người viết, sự ham chơi còn là cách trải nghiệm nghệ thuật và tích lũy vốn sống. Vì thế, cái nhàn trong văn chương ông không phải thái độ thờ ơ. Đó là sự tự do của tâm thế quan sát, cho phép người viết giữ được độ lùi để suy xét mà không quay lưng với thực tại.

Có một kỷ niệm nhỏ tại TP.Đà Nẵng: Những khi Báo Thanh Niên ra số có bài Nhàn đàm của mình, Hoàng Phủ Ngọc Tường lại nhờ mua báo. Cầm tờ báo trong tay, ông chăm chú đọc từng dòng, ngẫm ngợi như tác phẩm vẫn còn đang được sửa chữa. Phía sau những trang viết có vẻ phóng khoáng ấy là một sự nghiêm cẩn đáng quý với nghề.

Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà thơ Lê Diễn và tác giả tại nhà họa sỹ Vũ Dương.
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà thơ Lê Diễn và tác giả tại nhà họa sỹ Vũ Dương.

Dấu ấn còn lại

Từ bút ký đến nhàn đàm, Hoàng Phủ Ngọc Tường không rời bỏ phong cách của mình. Ông chỉ chuyển từ nhịp văn rộng dài sang những khoảng suy tưởng cô đọng hơn; từ hành trình đi và thấy sang khoảnh khắc ngồi lại, nhìn sâu vào một chi tiết đời thường.

Với báo chí, nhàn đàm của ông cũng gợi một kinh nghiệm đáng suy ngẫm: Bài viết ngắn không nhất thiết nông về nội dung; giọng văn nhẹ nhàng vẫn có thể mang sức nặng tư tưởng. Sau những câu chuyện nhỏ, điều còn lại là khả năng khiến người đọc nghĩ thêm về văn hóa, về con người và về cách mình đang sống.

Đó có lẽ là nét đặc sắc bền vững trong văn chương Hoàng Phủ Ngọc Tường: Biến tri thức thành cảm xúc, biến chuyện đời thành suy tưởng và làm cho mỗi trang viết mang một dấu ấn riêng.

Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đoạt nhiều giải thưởng: Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, 1980; Tặng thưởng Văn học Ủy ban toàn quốc Liên hiệp Các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, 1999, 2008; Giải A giải thưởng Văn học nghệ thuật Cố đô (1998 - 2003); Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, 2007.

Hoàng Hữu Quyết – Đình Lương