THCL Thông tin từ Tổng cục Hải quan, tính đến ngày 15/9, cả nước đã nhập khẩu 10,113 triệu tấn than, vượt xa so với con số dự báo của Bộ Công thương.

Dự báo của Bộ Công Thương, từ nay đến năm 2030, lượng than nhập khẩu liên tục tăng qua từng năm.

Với số lượng kể trên, Nhà nước phải bỏ ra lượng ngoại tệ gần 630 triệu USD để nhập khẩu than. Như vậy, sản lượng than nhập khẩu đã tăng tới hơn 173% so cùng kỳ năm 2015 (cùng kỳ nhập khoảng 3,7 triệu tấn), trị giá kim ngạch tăng gần 97%.

Tuy nhiên, trị giá nhập khẩu trung bình trên mỗi tấn than năm nay giảm 26,3% so cùng kỳ năm ngoài. Cụ thể, mức giá năm 2015 là 84,5 USD/tấn, trong khi năm 2016 là 62,3 USD/ tấn.

Vào tháng 1/2016, trong một báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công thương đưa ra dự báo khiêm tốn về sản lượng than nhập khẩu của năm 2016 là 3,173 triệu tấn. Tính đến thời điểm này, than nhập khẩu đã vượt xa dự báo của Bộ Công thương.

Thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, từ năm 2013, mặt hàng than bắt đầu xuất hiện trong “rổ” thống kê hàng hóa nhập khẩu của cơ quan này.

Theo đó, năm 2013, cả nước đã nhập 2,27 triệu tấn than; năm 2014, nhập khẩu đạt gần 3,1 triệu tấn, tăng 36,3% so với năm 2013. Đến năm 2015, lượng than nhập khẩu đã vọt lên gần 7 triệu tấn, tăng tới 124,8% so với năm 2014. Và đến nay, sản lượng than đã tăng chóng mặt như các con số nêu trên.

Xét về thị trường nhập khẩu, 3 thị trường cung ứng than nhiều nhất cho Việt Nam đó là: Nga với sản lượng 2,8 triệu tấn, kim ngạch hơn 179 triệu USD; Trung Quốc, 1,4 triệu tấn, kim ngạch 100 triệu USD và Indonesia là 1,8 triệu tấn, kim ngạch đạt 80 triệu USD.

Trong các thị trường trên, giá nhập khẩu than có mức cao nhất là 71,4 USD/tấn, Nga gần 64 USD/tấn, Indonesia là 44,4 USD/tấn.

Bộ Công thương dự báo, từ nay đến năm 2030, lượng than nhập khẩu liên tục tăng qua từng năm. Cụ thể, năm 2017 là 11,71 triệu tấn; năm 2018 là 20,972 triệu tấn; năm 2019 tăng lên 31,46 triệu tấn; năm 2020 là 40,256 triệu tấn; năm 2025 là 70,331 triệu tấn và vượt con số 100 triệu tấn vào năm 2030.

Hoan Nguyễn