Trong nhiều năm, cà phê, gạo, hồ tiêu, rau quả, thủy sản và gỗ đã trở thành những nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Tuy nhiên, lợi thế về sản lượng chưa đồng nghĩa với việc Việt Nam nắm giữ phần giá trị lớn trong chuỗi cung ứng.
Khi nông sản được xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu, phần giá trị gia tăng từ chế biến, đóng gói, phân phối và xây dựng thương hiệu có thể được tạo ra ở các thị trường nhập khẩu. Trong khi đó, doanh nghiệp và người sản xuất trong nước vẫn chịu tác động lớn từ biến động giá nguyên liệu, chi phí logistics và yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.
Đây là lý do chế biến sâu ngày càng được xem là hướng đi quan trọng để thay đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp. Khi diện tích sản xuất khó mở rộng vô hạn, việc tạo ra nhiều giá trị hơn trên cùng một lượng nguyên liệu sẽ có ý nghĩa lớn hơn việc chỉ tăng sản lượng.

Theo Quyết định 858/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển cơ giới hóa nông nghiệp và chế biến nông, lâm, thủy sản đến năm 2030, mục tiêu là tốc độ tăng giá trị gia tăng công nghiệp chế biến nông sản khoảng 10%/năm; trên 70% cơ sở chế biến, bảo quản nông sản chủ lực đạt trình độ công nghệ từ mức trung bình tiên tiến trở lên; tỷ trọng giá trị xuất khẩu nông sản chủ lực là sản phẩm chế biến đạt 60%.
Cùng một nguyên liệu, nhiều cách tạo giá trị
Hiệu quả của chế biến sâu không chỉ nằm ở việc bán sản phẩm với giá cao hơn. Quan trọng hơn, doanh nghiệp có thể kéo dài thời gian bảo quản, giảm tổn thất sau thu hoạch và chủ động lựa chọn thời điểm đưa hàng ra thị trường.
Hạt cà phê có thể được chế biến thành cà phê rang xay, hòa tan hoặc chiết xuất; trái cây có thể trở thành nước ép, sản phẩm sấy, đông lạnh; hồ tiêu có thể phát triển thành các dòng gia vị, sản phẩm đóng gói. Cùng một lượng nguyên liệu nhưng khi được chế biến thành nhiều sản phẩm, doanh nghiệp có thể tiếp cận thêm các phân khúc và thị trường khác nhau.
Đắk Lắk cho thấy rõ dư địa này khi sở hữu trên 217.000 ha cà phê, sản lượng hơn 580.000 tấn/năm; gần 29.000 ha hồ tiêu và khoảng 76.000 ha cây ăn quả. Quy mô vùng nguyên liệu lớn tạo nền tảng cho công nghiệp chế biến, nhưng để biến lợi thế sản xuất thành lợi thế về giá trị cần tiếp tục nâng tỷ lệ chế biến sâu và tăng liên kết giữa vùng nguyên liệu với doanh nghiệp.
Đặc biệt, chế biến và bảo quản tốt giúp giảm áp lực bán hàng trong mùa thu hoạch. Với rau quả, thủy sản hay lúa gạo, hạn chế tổn thất sau thu hoạch đồng nghĩa với việc giữ lại giá trị đã được tạo ra từ đất đai, lao động, giống, nước và các chi phí sản xuất.
Muốn chế biến sâu phải tổ chức lại vùng nguyên liệu
Một nhà máy hiện đại khó phát huy hiệu quả nếu không có nguồn nguyên liệu ổn định, đồng đều và đáp ứng tiêu chuẩn. Vì vậy, chế biến sâu không thể tách khỏi việc tổ chức lại vùng sản xuất.
Doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào vùng nguyên liệu, từ giống, quy trình canh tác, tiêu chuẩn chất lượng đến thu hoạch và bảo quản. Hợp tác xã và nông dân cũng cần chuyển từ sản xuất chủ yếu theo sản lượng sang sản xuất theo yêu cầu của sản phẩm cuối cùng.
Cùng với đó, kho bảo quản, logistics lạnh, cơ sở sơ chế và nhà máy chế biến cần được phát triển gắn với vùng sản xuất tập trung để giảm chi phí và hạn chế tổn thất.
Một hướng đi khác là tận dụng phụ phẩm để tạo ra sản phẩm mới, qua đó tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn. Đây cũng là yêu cầu ngày càng được quan tâm khi các thị trường nhập khẩu nâng tiêu chuẩn về môi trường và phát triển bền vững.
Về dài hạn, mục tiêu của chế biến sâu không chỉ là tăng kim ngạch xuất khẩu mà là giữ lại nhiều hơn giá trị trong nền kinh tế Việt Nam. Khi hạt cà phê, hạt tiêu, trái cây hay thủy sản được chuyển thành sản phẩm có chất lượng, thương hiệu và hàm lượng công nghệ cao, lợi ích từ chuỗi giá trị sẽ được phân bổ rộng hơn cho doanh nghiệp, người nông dân và các ngành dịch vụ hỗ trợ.
Đây cũng là bước chuyển cần thiết để nông nghiệp Việt Nam giảm phụ thuộc vào xuất khẩu nguyên liệu, nâng sức chống chịu trước biến động giá và tiến sâu hơn vào các phân khúc có giá trị cao trên thị trường quốc tế.
Nam Sơn (t/h)























