Là quốc gia xuất nông sản hàng đầu thế giới về sản lượng, nhưng nông sản Việt Nam vẫn chưa có được những thương hiệu lớn trên thương trường quốc tế. Đây là điểm yếu khiến nông sản xuất khẩu của nước ta chưa đạt được giá trị, lợi thế so sánh; DN tham gia xuất khẩu cũng chịu nhiều thiệt thòi.

Sản lượng cao, giá trị thấp
Theo thống kê, trong 7 tháng qua, cả nước xuất khẩu được 119.000 tấn hồ tiêu, kim ngạch đạt 888 triệu USD; xuất khẩu cà phê đạt 1,2 triệu tấn, kim ngạch 2,3 tỷ USD. Sản lượng xuất khẩu cà phê của Việt Nam đang đứng ở vị trí thứ 2 thế giới với 18% thị phần, hồ tiêu đứng đầu thế giới với 50% thị phần. Tương tự, xuất khẩu gạo trong 7 tháng đạt hơn 3,6 triệu tấn, kim ngạch hơn 1 tỷ USD.
Những con số thống kê nêu trên khẳng định vị trí nông sản xuất khẩu Việt Nam trên thị trường thế giới. Những nếu xét về tính bền vững và những lợi ích mà người nông dân và DN đạt được trong chuỗi giá trị thì chúng ta chưa thể hài lòng. Thực tế, nông sản của ta chưa tạo được thương hiệu lớn, sản phẩm xuất khẩu thường bị “lép vế” trong cạnh tranh với các thương hiệu lớn của nước ngoài.
Theo ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội hồ tiên, Phó chủ tịch Hiệp hội Cà phê – cacao Việt Nam, các quốc gia xuất khẩu cà phê, hồ tiêu lớn trên thế giới như Brazil, Malaysia, Indonesia chú trọng xây dựng thương hiệu từ hàng trăm năm nay, nên sản phẩm có tính cạnh tranh rất cao. Những năm qua, sản phẩm hồ tiêu, cà phê tại Việt Nam có tốc độ phát triển rất nhanh về luowngjnhuwng tiêu thụ chỉ ở mức độ bán những gì mình có. Nông dân chủ yếu trồng theo dạng tự phát, sản phẩm không đồng đều về chất lượng, chưa tạo ra được sản phẩm khác biệt so với các quốc gia khác nên khó tạo thương hiệu.
Không có thương hiệu, sản phẩm trong nước chịu nghịch lý là dù chiếm thị phần xuất khẩu lớn nhưng giá trị xuất khẩu lại không cao. Hiện nay, Việt nam có một số thương hiệu như cà phê Trung Nguyên, Vinacafe, hồ tiêu Phúc Quốc, hồ tiêu Chư Sê nhưng thị phần các sản phẩm này lại rất thấp. Trong khi đó, nhiều tập đoàn lớn của nước ngoài đầu tư vào Việt Nam được hưởng lợi nhuận lớn nhờ đầu tư có chiều sâu từ khâu trồng trọt đến chế biến.
Ông Trần Đức Tụng, Chánh văn phòng hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam cho rằng: “Hồ tiêu Việt Nam có năng suất cao, chi phí đầu tư thấp, nên giá rẻ. Do đó, nhiều DN nước ngoài đổ xô đến Việt Nam mua sản phẩm này. Nhưng đánh tiếc, chúng ta chủ yếu chỉ xuất bán thô, không có thương hiệu, không có nhãn mác nên giá trị thu về thấp. Trong tổng lượng hồ tiêu xuất khẩu của Việt Nam, lượng hồ tiêu xuất khẩu dùng chính thương hiệu của mình chỉ chiếm 20%, còn lại phần lớn là các DN nước ngoài mua tiêu Việt Nam về chế biến rồi dán nhãn mác của họ bán ra thị trường”.
Do chưa đạt yêu cầu đồng đều về chất lượng, chưa có thương hiệu, chúng ta mất dần cơ hội xuất khẩu nông sản vào những thị trường khó tính, giá cao. Đơn cử, với mặt hàng hồ tiêu, Việt Nam chiếm 50% thị phần thế giới nhưng chỉ xuất vào Nhật Bản được 1.000 tần; trong khi đó, Malaysia xuất vào Nhật 5.000 tấn, Indonesia xuất 2.000 – 3.000 tấn. Nông sản xuất khẩu của Việt Nam còn mất lợi thế so sánh về giá cả, khi nhiều sản phẩm có mức giá thấp hơn từ vài chục đến cả trăm USD/tấn so sản phẩm cùng loại của các nước trong khu vực và trên thế giới.
Gian nan tạo vùng nguyên liệu
Sau nhiều năm tham gia xuất khẩu, nhiều nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vẫn chưa có thương hiệu trên thị trường quốc tế. Đó là nỗi trăn trở chung của các nhà quản lý cũng như DN và người nông dân. Thật ra, việc tạo thương hiệu không khó nhưng được khách hàng chấp nhận bằng chất lượng sản phẩm mới khó. Và, một trong những yếu tố then chốt để bảo đảm chất lượng sản phẩm là phải xây dựng được vùng nguyên liệu để truy suất được nguồn gốc và chỉ dẫn địa lý sản phẩm.
Những năm qua, Công ty Cà phê Thắng Lợi (Đắc Lắc) là một trong số ít những DN kinh doanh cà phê luôn bảo đảm được doanh tu, lợi nhuận và ổn định thị trường xuất khẩu với sản phẩm chủ lực là cà phê chất lượng cao. Để làm được điều này, ban lãnh đạo DN đã kiên trì xây dựng vùng nguyên liệu cà phê sạch theo tiêu chuẩn UTZ (sản phẩm được bảo đảm chất lượng cả về xã hội và môi trường) trên diện tích 1.800 ha tại Đắc Lắc. Ngoài ra, công ty còn đầu tư hàng chục tỷ đồng trang bị dây chuyền sản xuất cà phê ướt, máy sấy, đánh bóng,bắn màu, xây dựng hệ thống sân bãi, kho chứa đạt chuẩn. Nhờ duy trì được chất lượng, sản phẩm của công ty được Tập đoàn Mitsubishi (Nhật Bản) bao tiêu sau thu hoạch và chế biến. Sản phẩm cà phê bột coffe Victoria của công ty có chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong nước và ngoài nước. Năm 2013, sản lượng cà phê chất lượng cao xuất khẩu của công ty đạt gần 3.700 tấn, kim ngạch đạt được hơn 8,3 triệu USD.
Dù biết rằng xây dựng vùng nguyên liệu là hướng phát triển bền vững, bảo đảm được thương hiệu cho sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu nhưng không phải DN nào cũng làm được điều này. Do đất canh tác manh mún, do người dân chưa có tác phong tuân thủ quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn, nên nhiều khi, sản phẩm thu về cho DN không đạt yêu cầu như đã cam kết. Đó là câu chuyện thất bại của nhiều DN xuất khẩu gạo trong nước khi xây dựng vùng nguyên liệu. Mấy năm trước đây, Ban Nghiên cứu đầu tư, phất triển nguồn nguyên liệu của Công ty Co Docimexco đã lên kế hoạch phát triển vùng nguyên liệu giai đoạn 2011 – 2015 là 7.000 ha lúa tại huyện Tam Nông, Cao Lãnh và Tháp Mười (tỉnh Đồng Tháp). Giai đoạn đầu triển khai, công ty đã ký hợp đồng với 12 HTX. Theo đó, công ty đầu tư vật tư nông nghiệp, hỗ trợ kỹ thuật chăm sóc lúa, bảo hiểm giá khi giá thị trường thấp hơn. Tuy nhiên, ngay trong vụ mùa hợp tác đầu tiên, nông dân đã phá vỡ “kèo”. Vụ đông xuân 2011-2012, công ty chỉ mua được sản phẩm của 4 HTX trong số 12 HTX vùng nguyên liệu, với tổng diện tích 90 ha/2.914 ha, sản lượng 1.234 tấn, chỉ đạt 7% tổng sản lượng toàn vùng thu hoạch. Nguyên nhân do nhiều nông dân thấy giá lúa lên cao thì phá vỡ hợp đồng bán cho bên ngoài…
Làm thương hiệu từ gốc
Theo ông Trần Trường Sơn, Phó chủ tịch Hội Nông dân TP.HCM, hiên nay, khâu xây dựng thương hiệu làm chưa bài bản, mới tập trung ở những sản phẩm đã có thị trường, đã xuất khẩu được rồi. Hầu hết các mặt hàng nông sản khi sản xuất không có liên kết đầu tư ngay từ ban đầu, chưa rõ đích phục vụ thị trường trong nước hay xuất khẩu. Ngoài ra, do chưa được định hướng đúng và chưa thấy rõ lợi ích, chính người nông dân chưa chú ý tạo thương hiệu, việc xây dựng thương hiệu chủ yếu do DN làm. Do đó, cần tăng cường mối liên kết giữa nông dân và DN.
Trong chuỗi sản xuất, nếu người nông dân chú tâm bảo vệ thương hiệu, nhiệt tâm vì sự phát triển thương hiệu ngay trong quá trình sản xuất thì sản phẩm sẽ được khẳng định trên thị trường. Còn nếu nay làm thế này, mai làm thế khác và làm gia công thì rất khó tạo dựng được thương hiệu. Ngoài ra, các cơ quan chức năng cần có thêm nhiều hoạt động hướng dẫn, tư vấn giúp nông dân làm những thủ tục pháp lý xây dựng thương hiệu sản phẩm; đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tổ chức các hội chợ, triển lãm để tăng cường giao lưu hàng hóa, quảng bá thương hiệu…
Ông Trần Đức Tụng cho rằng, xây dựng thương hiệu thành công hay không có vai trò rất lớn của các địa phương. Khi đã xây dựng được vùng nguyên liệu cho ra những sản phẩm đồng đều, chất lượng tại các địa phương thì còn cần phải có những cơ sở chế biến đóng được nhãn mác thì sản phẩm mới bảo vệ được thương hiệu.
Theo Thời nay


















