Diễn đàn là cơ hội để các cơ quan quản lý, địa phương và doanh nghiệp cùng trao đổi, làm rõ các quy định, quy trình và cơ chế hỗ trợ, qua đó thúc đẩy triển khai hiệu quả chính sách EPR trong thực tiễn. Chương trình thu hút các đại biểu là đại diện các cơ quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương, các nhà khoa học, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp… tham dự theo hình thức trực tiếp và trực tuyến.

EPR là từ viết tắt của “Extended Producer Responsibility”, tạm hiểu là “Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu”. Đây là một cách tiếp cận chính sách môi trường, theo đó trách nhiệm của doanh nghiệp được mở rộng tới toàn bộ vòng đời sản phẩm, bao gồm cả giai đoạn sau sử dụng. Cơ chế này không chỉ góp phần hiện thực hóa nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” mà còn thúc đẩy cách tiếp cận quản lý theo vòng đời sản phẩm - nền tảng của kinh tế tuần hoàn. 

Tại Việt Nam, EPR đã được luật hóa trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, tạo cơ sở pháp lý để chuyển đổi từ mô hình quản lý chất thải truyền thống sang mô hình bền vững, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò chủ động và có trách nhiệm hơn trong chuỗi giá trị sau tiêu dùng.

Sau khi cơ chế EPR được thể chế hóa trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 08/2022/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 05/2025/NĐ-CP) nhằm quy định chi tiết một số điều của Luật và từng bước hướng dẫn triển khai cơ chế EPR trên thực tế. Các văn bản này đã làm rõ nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, đặc biệt là trách nhiệm đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, cũng như thiết lập các nguyên tắc và cơ chế cơ bản để thực hiện EPR.

Tuy nhiên, trong giai đoạn này, các quy định liên quan đến việc quản lý, sử dụng nguồn kinh phí đóng góp và cơ chế hỗ trợ cụ thể cho các hoạt động thu gom, tái chế và xử lý chất thải vẫn chưa được quy định đầy đủ và chi tiết, dẫn đến những hạn chế nhất định trong quá trình triển khai.

Khắc phục khoảng trống về chính sách, ngày 1/4/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 110/2026/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu.

Nghị định này quy định chi tiết Điều 54 Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và Điều 55 Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Theo đại diện lãnh đạo Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), việc Chính phủ ban hành Nghị định EPR vào đầu tháng 4/2026 đã đánh dấu một bước hoàn thiện quan trọng trong khuôn khổ pháp lý về EPR. Nghị định này đã cụ thể hóa đầy đủ cơ chế thực hiện trách nhiệm tái chế và xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu, đồng thời thiết lập rõ ràng quy trình quản lý, sử dụng nguồn đóng góp tài chính và cơ chế hỗ trợ cho các hoạt động xử lý chất thải. Qua đó, cơ chế EPR tại Việt Nam đã được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, minh bạch và khả thi hơn, bao quát toàn bộ chu trình từ đóng góp nguồn lực đến phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực đó trong thực tiễn.

Đối với lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là bao bì thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) – một loại chất thải có tính đặc thù và khó xử lý – Nghị định này tạo nền tảng quan trọng để xây dựng hệ thống thu gom và xử lý bền vững trên phạm vi toàn quốc. Nghị định đã quy định và đưa ra các hướng dẫn chi tiết như sau:

- Cụ thể hóa cơ chế đóng góp tài chính và sử dụng quỹ để hỗ trợ hoạt động tái chế và xử lý chất thải, trong đó có thu gom và xử lý bao gói thuốc BVTV;

- Thiết lập nguyên tắc phân bổ kinh phí quỹ đóng góp rõ ràng hơn giúp đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả của việc sử dụng quỹ;

- Tách riêng nguồn kinh phí cho bao gói thuốc BVTV, đảm bảo nguồn lực đóng góp từ các tổ chức cá nhân kinh doanh nhập khẩu thuốc BVTV chỉ được sử dụng cho việc thu gom xử lý bao gói thuốc BVTV do đây là một trong các loại bao bì khá đặc thù và có các quy trình kỹ thuật riêng biệt;

- Đơn giản hóa quy trình tiếp cận nguồn hỗ trợ cho địa phương, tạo điều kiện thúc đẩy triển khai trên thực tế.

Tại Diễn đàn, các đại biểu tập trung thảo luận, làm rõ một số nội dung liên quan đến quy định EPR đối với sản phẩm thuốc BVTV, phân bón như sau:

Cơ chế đóng góp và kê khai của doanh nghiệp

Bao bì thuốc BVTV được xem là một loại bao bì khó khó tái chế và đặc thù, và hiện được quy định là rác thải phải tiêu huỷ theo Luật Bảo vệ Môi trường. Do đó, các nhà sản xuất, nhập khẩu thuốc BVTV có trách nhiệm đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để hỗ trợ hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý bao bì sau sử dụng. Mức đóng góp được xác định dựa trên số lượng sản phẩm đưa ra thị trường, kết hợp với đặc tính bao bì và kích thước. Doanh nghiệp thực hiện kê khai trên hệ thống EPR quốc gia trước ngày 1/4 hàng năm và hoàn thành nghĩa vụ đóng góp trước ngày 20/4. 

Cơ chế hỗ trợ địa phương triển khai xử lý bao bì thuốc BVTV

Theo các quy định hiện hành về quản lý bao gói thuốc BVTV (như Thông tư liên tịch số 05/2016/TTLT-BNNPTNT-BTNMT và các văn bản hợp nhất liên quan), Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức quản lý, xây dựng kế hoạch và bố trí nguồn lực cho hoạt động thu gom, xử lý bao gói thuốc BVTV sau sử dụng tại địa phương. Tuy nhiên, trong thực tế, việc triển khai còn gặp nhiều khó khăn do hạn chế về nguồn lực tài chính. Cơ chế EPR vì vậy đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung nguồn kinh phí hỗ trợ, tạo điều kiện để các địa phương chủ động hơn trong việc thực hiện các trách nhiệm này.

Theo quy định về cơ chế EPR tại Việt Nam, nguồn kinh phí đóng góp từ các nhà sản xuất, nhập khẩu được tập trung tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam và được phân bổ cho các địa phương nhằm triển khai các hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật.

Cụ thể, trước ngày 1 tháng 3 hằng năm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có nhu cầu sẽ gửi đề nghị hỗ trợ tài chính về Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo mẫu quy định. Trên cơ sở đó, Bộ sẽ tổng hợp, thẩm định và xây dựng phương án phân bổ kinh phí dựa trên các tiêu chí khách quan và định lượng, như diện tích đất nông nghiệp và khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.

Phương án phân bổ sau đó được phê duyệt và công bố công khai trước ngày 1 tháng 6 hằng năm. Căn cứ vào quyết định này, Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam sẽ thực hiện chuyển kinh phí hỗ trợ về cho các địa phương trước ngày 10 tháng 6 để triển khai các hoạt động theo kế hoạch.

Sau khi tiếp nhận kinh phí, các địa phương chủ động tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về việc sử dụng nguồn lực được phân bổ, bảo đảm đúng mục đích và hiệu quả. Việc giải ngân được thực hiện theo khối lượng công việc thực tế hoàn thành, gắn với công tác nghiệm thu theo quy định. Thời gian thực hiện các hoạt động hỗ trợ tối đa là 36 tháng; trường hợp không sử dụng hết kinh phí, địa phương có trách nhiệm hoàn trả phần còn lại về Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để tiếp tục phân bổ cho các địa phương khác.

Việc triển khai cơ chế EPR, đặc biệt đối với bao bì thuốc BVTV được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chất thải nông nghiệp, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và sức khỏe cộng đồng, đồng thời thúc đẩy sự tham gia chủ động và trách nhiệm của doanh nghiệp trong quá trình phát triển bền vững.

PV