Bám sát vào Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, tỉnh đã quy hoạch tổng diện tích đất, đất có mặt nước, mặt nước chuyên dùng và khu vực biển để thực hiện NTTS là 95.147ha. Trong đó, diện tích khu vực biển là 45.146ha để phát triển NTTS biển tại 9 địa phương cấp huyện trước đây. Sau khi Quy hoạch tỉnh được phê duyệt, tỉnh tổ chức công bố, công khai đầy đủ trên cổng thông tin điện tử của tỉnh.
Việc minh bạch hóa thông tin giúp các tổ chức, cá nhân dễ dàng tra cứu, tiếp cận và chủ động định hướng đầu tư, sản xuất. Đáng chú ý, hệ thống bản đồ quy hoạch cũng được số hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác theo dõi, quản lý và giám sát thực hiện.

Không dừng ở định hướng tổng thể, Quảng Ninh đã cụ thể hóa quy hoạch bằng hệ thống đề án, phương án sử dụng không gian biển tại từng địa phương. 100% đơn vị cấp huyện trước đây đã xây dựng và phê duyệt các đề án, kế hoạch phát triển NTTS trên biển. Điểm nổi bật là các đề án này không mang tính hình thức, mà được xây dựng chi tiết, phân chia cụ thể các khu vực biển thành từng “lô, thửa” để sắp xếp, bố trí các dự án NTTS với những quy định về đối tượng nuôi, mật độ nuôi, phương thức nuôi và cơ cấu diện tích khu vực biển thực tế sử dụng để NTTS (diện tích nuôi hữu dụng), đáp ứng những yêu cầu về kỹ thuật của ngành thủy sản, điều kiện thực tiễn từng địa phương; đảm bảo sự ổn định của môi trường, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, an toàn hàng hải và giao thông thủy trong vùng quy hoạch. Trước khi phê duyệt, các phương án đều được lấy ý kiến rộng rãi từ các sở, ngành liên quan, cộng đồng dân cư và các tổ chức, cá nhân đang hoạt động trên biển.
Việc phân vùng rõ ràng đã tạo cơ sở quan trọng để thực hiện sắp xếp lại toàn bộ hoạt động NTTS, đồng thời làm căn cứ cho cấp phép, giao khu vực biển và quản lý sau này. Đối với những khu vực có nhu cầu vượt quá diện tích quy hoạch, các địa phương đã áp dụng hình thức bốc thăm công khai để phân bổ, bảo đảm khách quan và công bằng. Cách làm này đã hạn chế tối đa việc khiếu kiện, tạo sự đồng thuận trong cộng đồng.
Trong quá trình triển khai, tỉnh đặc biệt chú trọng vai trò của cơ quan chuyên môn trong việc hướng dẫn, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp. Tính đến trung tuần tháng 3/2026, Sở NN&MT đã trực tiếp tiếp nhận, hướng dẫn cho 85 tổ chức doanh nghiệp, hợp tác xã hoàn thiện hồ sơ pháp lý giao khu vực biển NTTS nộp tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh; 55/85 tổ chức có hồ sơ đủ điều kiện đã được Chủ tịch UBND tỉnh quyết định giao khu vực biển theo quy định; 30/85 hồ sơ đang xin ý kiến các Bộ, sở, ngành, địa phương có liên quan theo quy định.
Cùng với đó, Sở chủ động phối hợp với các cơ quan liên quan để thẩm định hồ sơ, kiểm tra thực địa, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc phát sinh, nhất là các vấn đề chồng lấn không gian biển và các quy hoạch hàng hải cảng biển, giao thông thủy. Việc đồng hành này giúp nâng cao chất lượng hồ sơ của các tổ chức, cá nhân, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính, không để phát sinh trường hợp phải bổ sung, chỉnh sửa hồ sơ nhiều lần.
Từ ngày 1/1/2026, thực hiện phân cấp, ủy quyền, đặc khu Vân Đồn đã tiếp nhận và xử lý hồ sơ đề nghị giao khu vực biển nuôi trồng thủy sản của 15 tổ chức; đã hoàn thành giao biển cho 1/15 tổ chức. Đối với đối tượng là cá nhân thuộc thẩm quyền giao khu vực biển của cấp huyện cũ (nay là cấp xã), các địa phương đã tiếp nhận hồ sơ của 1.051 cá nhân có đề nghị giao khu vực biển và đã hoàn thành giao khu vực biển cho 833/1.051 cá nhân có hồ sơ đủ điều kiện, đúng đối tượng với tổng diện tích hơn 551 ha. Kết quả này cho thấy tiến độ triển khai nhanh, đồng thời khẳng định tính khả thi của quy hoạch khi được tổ chức thực hiện bài bản.
Bên cạnh kết quả đạt được, quá trình triển khai cũng vẫn còn một số vướng mắc. Tại một số địa phương như Hà An, Tuần Châu, Đầm Hà, Móng Cái 2, hiện vẫn còn tồn tại tình trạng chậm bố trí vị trí nuôi, hoặc chồng lấn diện tích. Đặc biệt là xã Đầm Hà bố trí vị trí, địa điểm và xác nhận sơ đồ khu vực biển của UBND xã Đầm Hà chậm và phát sinh nhiều vướng mắc do chồng lấn về diện tích đề nghị giữa các tổ chức được ký xác nhận sơ đồ. Những hạn chế này đã dẫn đến phát sinh kiến nghị của một số tổ chức, ảnh hưởng đến tiến độ chung. 
Tại các địa phương như: Vĩnh Thực, Hải Ninh, Móng Cái 1, Móng Cái 2, Móng Cái 3, Quảng Hà, Đường Hoa, Tiên Yên, Đông Ngũ, Hải Lạng, chưa rà soát, cập nhật triệt để, chính xác các vùng bãi triều, đất ngập nước ven biển hoặc khu vực biển đưa vào quy hoạch thành các vùng có tiềm năng phát triển NTTS để có cơ sở định hướng phát triển các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung công nghiệp trên biển (nuôi cá biển, nhuyễn thể…) và nội địa (nuôi tôm, nhuyễn thể, cá rô phi nước lợ…). Điều này cũng ảnh hưởng đến việc tạo tiền đề phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, giải quyết việc làm, ổn định sinh kế cho người dân, nhất là phục vụ chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững.
Ông Nguyễn Minh Sơn, Giám đốc Sở NN&MT Quảng Ninh cho biết: Trước thực trạng trên, UBND tỉnh đã có văn bản yêu cầu các địa phương rà soát, kiểm tra thực địa, có phương án xử lý dứt điểm, không để kéo dài. Việc thẳng thắn nhìn nhận khó khăn và kịp thời điều chỉnh cũng là một yếu tố quan trọng trong cách làm đồng bộ của tỉnh.
Hiện nay, Sở NN&MT cũng đang tiến hành tổng hợp, rà soát ý kiến tham gia của các cơ quan, đơn vị liên quan đối với 28 hồ sơ đề nghị giao khu vực biển để NTTS; hướng dẫn các địa phương có biển khẩn trương rà soát các vùng bãi triều, đất ngập nước ven biển, khu vực biển có khả năng phát triển NTTS; tiếp tục phối hợp với Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, Chi cục Hàng hải và Đường thủy phía Bắc, cùng các đơn vị có liên quan trong việc thẩm định hồ sơ giao khu vực biển; kiểm tra thực địa ranh giới, vị trí của các tổ chức có đề nghị giao khu vực biển để kịp thời nắm bắt, tháo gỡ những khó khăn, tồn tại trong quá trình triển khai thực hiện của các tổ chức.
Trần Trang (t/h)

























