Hoạt động sản xuất, thương mại, năng lượng khả quan
Theo báo cáo của Bộ Công Thương, trong 9 tháng đầu năm 2026, nền kinh tế phục hồi mạnh mẽ, nhu cầu đầu vào cho sản xuất, đầu tư mở rộng của khu vực FDI và đơn hàng xuất khẩu đồng loạt tăng cao, kéo theo nhu cầu lớn về điện, nguyên nhiên liệu và máy móc; cùng lúc đó, tiêu dùng nội địa, du lịch và dịch vụ tiếp tục khởi sắc nhờ các chương trình kích cầu.
Trước tình hình đó, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương đã bám sát các Nghị quyết, Kết luận của Đảng, Quốc hội và Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ. Ngành Công Thương đã chủ động theo sát thị trường, bảo đảm an ninh năng lượng, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất - xuất khẩu.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9, Quý III và 09 tháng đạt nhiều kết quả tích cực, ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất trong nhiều năm, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, riêng ngành Công Thương, hoạt động sản xuất, thương mại và năng lượng nhìn chung duy trì xu hướng khả quan, cụ thể:
Sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì tăng trưởng: IIP tháng 9 tăng 16,65% so với cùng kỳ và tăng 3,26% so với tháng trước. Lũy kế 9 tháng tăng 12,33%, sát kịch bản 9 tháng (12,28%); Tăng tốc qua các quý (quý I 10,5%, quý II 11,2%, quý III 14,8%); Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chính, tăng 12,93% (riêng tháng 9 tăng 17,12%). Tuy nhiên, tăng trưởng công nghiệp chưa đồng đều giữa các địa phương; một số trung tâm công nghiệp lớn vẫn tăng dưới ngưỡng mục tiêu. Vì vậy, việc duy trì tốc độ tăng cao của chế biến, chế tạo trong quý IV có ý nghĩa quyết định đối với khả năng hoàn thành mục tiêu cả năm.
Thị trường trong nước tiếp tục là bệ đỡ của tăng trưởng: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9 ước đạt 690,6 nghìn tỷ đồng, tăng 14,1% so với cùng kỳ và tăng 1,7% so với tháng trước. Lũy kế 9 tháng đạt 5.925,7 nghìn tỷ đồng, tăng 13,4%, nằm trong dải mục tiêu cả năm và vượt kế hoạch 9 tháng 1,4%. Quý III ước đạt khoảng 2.039 nghìn tỷ đồng, tăng 14,5%. Tuy nhiên, tăng trưởng vẫn được hỗ trợ nhiều hơn bởi dịch vụ, do đó cần tiếp tục củng cố sức mua hàng hóa để tạo tác động lan tỏa mạnh hơn tới sản xuất trong nước.
Hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục là điểm sáng: Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng tăng mạnh 24,5% (riêng tháng 9 tăng 39,1%, đạt mức cao nhất từ đầu năm). Khu vực FDI chiếm 80,6% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 29,2%, khu vực doanh nghiệp trong nước tăng 8,1%; tăng trưởng tập trung chủ yếu vào nhóm điện tử, máy móc và thiết bị. Ở chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu 9 tháng tăng 36,7%, trong đó khoảng 90,5% là máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất trong nước và gia công hàng xuất khẩu.
Đồng bộ giải pháp trong 3 tháng cuối năm
Bộ Công Thương nhận định, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được trong 9 tháng đầu năm, bước sang Quý IV, nền kinh tế nói chung và ngành Công Thương nói riêng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức đan xen. Ở khu vực bên ngoài, chính sách tiền tệ thắt chặt kéo dài, biến động tỷ giá cùng căng thẳng địa chính trị đẩy giá năng lượng và chi phí logistics lên cao, trực tiếp làm gia tăng chi phí sản xuất, áp lực lạm phát và suy giảm sức mua tại các thị trường xuất khẩu trọng điểm. Cùng với đó là gia tăng các rào cản kỹ thuật, thuế quan, tiêu chuẩn xanh và nguy cơ biến động từ các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Trung Quốc.
Ở trong nước, tăng trưởng sản xuất công nghiệp vẫn tiềm ẩn rủi ro giảm tốc do điểm nghẽn về đơn hàng, nguyên vật liệu và tiến độ bổ sung nguồn điện; sức mua thị trường nội địa cùng thương mại điện tử phục hồi chưa đủ mạnh.
"Những thách thức này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chủ động theo dõi, linh hoạt thích ứng và tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp trọng tâm trong 3 tháng cuối năm để hoàn thành cao nhất các mục tiêu năm 2026", Bộ Công Thương nêu, đồng thời đề xuất các giải pháp cụ thể:
Một là, tập trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phục hồi sản xuất công nghiệp: Giải quyết dứt điểm các điểm nghẽn về đơn hàng, nguyên vật liệu; hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo; đẩy nhanh tiến độ đưa các dự án công nghiệp lớn, có khả năng tạo ngay sản lượng mới vào vận hành trong năm.
Hai là, bảo đảm an ninh năng lượng: Đẩy nhanh tiến độ thi công và hoàn thành các dự án nguồn điện, lưới điện trọng điểm; rà soát, cập nhật phương án vận hành hệ thống điện theo các kịch bản phụ tải đỉnh điểm cuối năm, bảo đảm đủ nguyên nhiên liệu cho phát điện. Cập nhật liên tục diễn biến giá dầu và các tuyến vận tải quốc tế; chủ động đa dạng hóa nguồn nhập khẩu, phối hợp linh hoạt các công cụ điều tiết giá, thuế, phí và dự trữ quốc gia nhằm bình ổn thị trường trong nước, giảm thiểu tác động của cú sốc giá từ bên ngoài.
Ba là, đẩy mạnh xuất khẩu, đa dạng hóa thị trường và nâng cao năng lực tuân thủ: Tập trung khai thác hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết, mở rộng các thị trường mới; nâng cao năng lực cảnh báo sớm về các vụ việc phòng vệ thương mại, rào cản thuế quan, tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc và quy định xuất xứ. Hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu và minh bạch chuỗi cung ứng. Thúc đẩy xuất khẩu chính ngạch, mở rộng các thỏa thuận/nghị định thư về kiểm dịch nông sản; tăng cường đầu tư hạ tầng logistics lạnh và chuẩn hóa vùng trồng, cơ sở đóng gói đáp ứng quy định của từng thị trường đối tác.
Bốn là, kích cầu tiêu dùng, phát triển mạnh thị trường trong nước: Tập trung triển khai các chương trình kích cầu tiêu dùng quy mô lớn, chương trình khuyến mại tập trung quốc gia, kết nối cung - cầu hàng hóa và phát triển hạ tầng thương mại hiện đại; tăng cường theo dõi, đôn đốc sức mua và tổng mức bán lẻ tại các trung tâm tiêu dùng lớn và các địa phương có tốc độ tăng trưởng thấp, bảo đảm nguồn cung các mặt hàng thiết yếu, phục vụ tốt nhu cầu dịp cao điểm cuối năm và Tết Nguyên đán.
Năm là, tăng tốc phát triển thương mại điện tử gắn với quản lý thị trường số lành mạnh: Tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm đưa tăng trưởng thương mại điện tử B2C đạt dải mục tiêu 20-22%; đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh ứng dụng chuyển đổi số và tham gia sàn thương mại điện tử xuyên biên giới. Đồng thời, tăng cường công tác quản lý, xác thực thông tin người bán, đấu tranh chống hàng giả, hàng nhái, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước trên không gian mạng.
Sáu là, hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số, đồng hành cùng doanh nghiệp, kịp thời tháo gỡ khó khăn, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Kiểm soát xăng dầu thế nào?
Một nội dung lớn trong dự thảo nghị định là việc kiểm soát hình thành giá xăng dầu, đặc biệt khi trao quyền tự quyết cho doanh nghiệp. Mục tiêu là nhằm đảm bảo giá xăng dầu bám sát theo cơ chế thị trường có sự quản lý nhà nước.
Bà Nguyễn Thúy Hiền, Phó cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), chia sẻ: Trước những lo ngại về việc giá sẽ biến động khi doanh nghiệp tự quyết giá, bà Hiền cho hay Nhà nước sẽ có các công cụ, biện pháp kiểm soát giá sẽ trên cơ sở yêu cầu thương nhân kê khai tính toán giá, giải trình biến động, gắn với cơ sở dữ liệu về giá được áp dụng cho cả nước.

Theo bà Hiền, phần mềm này sẽ cảnh báo các yếu tố bất thường về điều hành giá của thương nhân tới Sở Công Thương, Bộ Công Thương, kịp thời cung cấp thông tin thương nhân nào có kê khai giá nhưng không giải trình được biến động làm tăng giá để quản lý thị trường kiểm tra, kiểm soát.
"Nhà nước không điều hành giá hàng tuần. Doanh nghiệp căn cứ chi phí kinh doanh thực tế để tự quyết định thay đổi giá theo hoạt động kinh doanh, kê khai giá cho nhà nước nên việc thay đổi phải có căn cứ nhất định gắn với các yếu tố hình thành giá" - bà Hiền nói.
Về những lo ngại thương nhân đầu mối sẽ chi phí giá bán và tạo ra sự không công bằng cho doanh nghiệp bán lẻ, bà Hiền cho hay dự thảo quy định cho phép cả thương nhân đầu mối và bán lẻ đều được quyết định giá theo thị trường, tạo ra sự cạnh tranh về giá giữa các bên.
Đặc biệt trên thị trường xăng dầu chỉ còn hai tầng nấc là thương nhân đầu mối và thương nhân phân phối, nên tới đây trên thị trường sẽ có khoảng hơn 10.500 thương nhân phân phối và được quyết định giá, sẽ tạo sự cạnh tranh trên thị trường.
"Thị trường xăng dầu sẽ cạnh tranh khốc liệt và mạnh mẽ, nên không lo ngại đầu mối chi phối giá. Thậm chí trong bối cảnh đó, thương nhân đầu mối phải chịu sức ép cạnh tranh từ thương nhân phân phối. Đối với lo ngại bắt tay, thông đồng nâng giá, bộ có bổ sung quy định xử lý thỏa thuận cạnh tranh không lành mạnh trong luật cạnh tranh" - bà Hiền thông tin.
Về quy định về điều kiện đối với thương nhân đầu mối trong 2 năm liên tiếp phải đáp ứng tổng nguồn cung tối thiểu 300.000 m3/năm, nếu không sẽ bị rút giấy phép, bà Nguyễn Thúy Hiền, Phó cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), cho hay việc đưa ra quy định thương nhân đầu mối phải đáp ứng tổng nguồn cung tối thiểu 300.000 m3 là thực hiện theo chỉ đạo chung của Chính phủ trong việc tái cơ cấu thị trường xăng dầu, nâng cao năng lực của thương nhân tham gia thị trường.
Thực tế, việc phân giao hạn mức tối thiểu xăng dầu hàng năm dựa trên đăng ký thực hiện của doanh nghiệp, nên chưa thể hiện rõ được năng lực, có thương nhân đầu mối đạt mức tổng nguồn phân giao rất thấp.
Vì vậy, dự thảo đưa ra quy định trên nhằm yêu cầu doanh nghiệp phải đáp ứng yêu cầu năng lực, đảm bảo quy định về tổng nguồn tối thiểu. Với quy định này, bà Hiền cho hay sẽ có khoảng hơn một nửa thương nhân đầu mối đạt hạn mức 300.000 m3/năm.
"Điều này không có nghĩa là những doanh nghiệp còn lại không đáp ứng và không thể tham gia thị trường. Dự thảo đưa ra lộ trình 2 năm thực hiện nên với những doanh nghiệp tiếp tục đầu tư năng lực, nâng cao khả năng để đáp ứng yêu cầu và tham gia thị trường nên chưa thể nói có bao nhiêu doanh nghiệp bị loại" - bà Hiền nói.
Thu Trang























