Khi tài sản không còn là thước đo duy nhất
Tín dụng dành cho DNNVV đang bước vào giai đoạn có nhiều điều kiện thuận lợi hơn về nguồn cung. Theo Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 28/8/2026, dư nợ đối với DNNVV đạt trên 4,1 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 12,4% so với cuối năm 2025 và chiếm khoảng 20% tổng dư nợ nền kinh tế.
Cùng với dòng tín dụng hiện hữu, chương trình ưu đãi dành riêng cho DNNVV cũng được mở rộng nhanh. Sau hơn một tháng, số tổ chức tín dụng tham gia tăng từ 4 lên 19, với tổng hạn mức công bố hơn 407.000 tỷ đồng, gần gấp đôi mức đăng ký ban đầu 220.000 tỷ đồng. Lãi suất ưu đãi thấp hơn 1-2%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn.
Những con số này cho thấy bài toán tín dụng đang chuyển dần từ câu chuyện “có nguồn vốn hay không” sang câu chuyện “ngân hàng nhận diện khách hàng như thế nào”.

Đặc thù của DNNVV là quy mô tài sản thường nhỏ, vốn chủ sở hữu hạn chế và hệ thống quản trị tài chính chưa đồng đều. Không ít doanh nghiệp chưa có báo cáo tài chính được kiểm toán, dòng tiền kinh doanh còn đan xen với tài chính cá nhân, trong khi tài sản bảo đảm không đủ lớn để đáp ứng yêu cầu vay.
Nếu sử dụng tài sản thế chấp làm căn cứ chính, những doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh thực chất nhưng ít tài sản hữu hình dễ bị thu hẹp cơ hội tiếp cận tín dụng. Đây là khoảng trống mà việc mở rộng hạn mức cho vay tự thân không thể giải quyết.
Trong khi đó, hoạt động của doanh nghiệp ngày càng để lại nhiều dấu vết dữ liệu. Hóa đơn điện tử, doanh thu qua tài khoản, lịch sử thanh toán, hợp đồng đầu ra, dữ liệu thuế hay giao dịch với đối tác đều có thể phản ánh phần nào sức khỏe kinh doanh.
Vấn đề là những dữ liệu này cần được chuẩn hóa, kết nối và đưa vào quá trình thẩm định thay vì chỉ được xem như thông tin bổ sung.
Từ hồ sơ vay vốn sang “bức tranh” doanh nghiệp
Sự thay đổi quan trọng hơn đối với tín dụng DNNVV có thể nằm ở cách ngân hàng dựng nên bức tranh về một doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp không nhất thiết phải có nhiều bất động sản hay máy móc để chứng minh khả năng trả nợ. Nếu có đơn hàng ổn định, dòng tiền về đều, lịch sử thanh toán tốt và giữ được vị trí trong chuỗi cung ứng, những yếu tố này cũng có thể trở thành căn cứ quan trọng để đánh giá mức độ tín nhiệm.
Đây là hướng tiếp cận đang được đặt ra khi các chuyên gia đề xuất ngân hàng tăng sử dụng lịch sử giao dịch, hợp đồng đầu ra, hóa đơn điện tử và dữ liệu về vị trí của doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng thay cho việc quá phụ thuộc vào tài sản bảo đảm.
Cách làm này cũng phù hợp hơn với sự đa dạng của DNNVV. Một doanh nghiệp thương mại có thể cần vốn lưu động theo mùa vụ; doanh nghiệp sản xuất cần vốn theo chu kỳ đơn hàng; doanh nghiệp xuất khẩu có thể cần tài trợ trước khi nhận tiền từ đối tác. Nếu cùng áp dụng một cấu trúc tín dụng cứng nhắc, ngân hàng vừa khó đáp ứng nhu cầu thực tế, vừa khó kiểm soát rủi ro.
Cơ cấu khoản vay theo chu kỳ dòng tiền vì thế trở thành một hướng đáng chú ý. Khi thời điểm giải ngân, kỳ hạn và lịch trả nợ bám sát vòng quay vốn, doanh nghiệp có thêm dư địa vận hành, còn ngân hàng có thể theo dõi khoản vay thông qua chính dòng tiền phát sinh.
Ở phía doanh nghiệp, yêu cầu cũng thay đổi tương ứng. Một phương án vay vốn không chỉ cần nêu số tiền cần vay mà phải làm rõ doanh thu dự kiến, biên lợi nhuận, điểm hòa vốn, thời gian thu hồi vốn và nguồn trả nợ. Đây là những thông tin giúp ngân hàng chuyển từ việc đánh giá một bộ hồ sơ sang đánh giá một hoạt động kinh doanh cụ thể.
Các công cụ chia sẻ rủi ro cũng cần được mở rộng để hỗ trợ quá trình này. Quỹ bảo lãnh tín dụng, bao thanh toán, tài trợ khoản phải thu và hệ thống xếp hạng tín nhiệm độc lập có thể tạo thêm những lớp thông tin và bảo đảm cho các khoản vay mà tài sản thế chấp không đủ đáp ứng.
Đồng thời, việc thúc đẩy DNNVV tham gia sâu hơn vào chuỗi phân phối, kết nối với doanh nghiệp lớn và mở rộng thị trường đầu ra cũng góp phần hình thành những dữ liệu kinh doanh đáng tin cậy hơn.
Quy mô hơn 407.000 tỷ đồng đang tạo ra một dư địa đáng kể để mở rộng tín dụng cho DNNVV. Nhưng để nguồn vốn này tiếp cận được nhiều doanh nghiệp hơn, thay đổi quan trọng có thể không nằm ở việc tiếp tục nới quy mô chương trình, mà ở cách ngân hàng nhìn thấy một doanh nghiệp: từ tài sản đang sở hữu sang dòng tiền đang tạo ra và vị trí doanh nghiệp đang có trên thị trường.
Minh Thành (t/h)























